Đặc điểm sinh vật đất dưới tán rừng thực nghiệm núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp

TÓM TẮT Sinh vật đất đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả các quá trình lý, hóa và sinh học đất. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các tính chất lý hoá học tại khu vực nghiên cứu là môi trường sống khá thuận lợi cho động vật đất. Trong đó, dung trọng đất từ 1,25 - 1,72 g/cm3, tỷ trọng là 2,59 - 2,85 g/cm3, độ xốp đạt 39,50 - 51,66% và thành phần cơ giới đất thuộc loại đất thịt nhẹ đến trung bình; pHKCl từ 4,22 - 4,92 thuộc đất chua đến ít chua. Hàm lượng chất hữu cơ từ 1,08 - 3,48%, hàm lượng NH4+ từ 1 - 2,62 mg/100 g đất, P2O5 dễ tiêu từ 0,06 - 1,74 mg/100 g đất, K2O dễ tiêu từ 2,59 - 10,45 mg/100 g đất. Thành phần vi sinh vật đất ở các trạng thái rừng gồm 90% vi khuẩn, 7 - 8% xạ khuẩn, 1% nấm. Số lượng giun đất dưới rừng trồng Thông + cây bản địa trung bình 69.100 con/ha, Keo + CBĐ khoảng 40.900 con/ha và Bạch đàn trắng trung bình 26.400 con/ha. Số lượng vi sinh vật đất và giun đất cao nhất ở lớp đất mặt 0 - 10 cm, giảm dần ở các lớp đất dưới sâu và cao nhất ở rừng Thông + cây bản địa, sau đó là Keo + cây bản địa và thấp nhất là rừng Bạch đàn trắng. Sự khác biệt này chủ yếu do độ pH và hàm lượng CHC trong đất giảm dần theo độ sâu tầng đất và các trạng thái rừng trên. Kết quả trên góp phần xây dựng và củng cố thêm cơ sở dữ liệu về mối quan hệ giữa thành phần loài cây, độ sâu tầng đất đến sự phân bố của vi sinh vật và động vật đất

pdf 11 trang yennguyen 1300
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm sinh vật đất dưới tán rừng thực nghiệm núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm sinh vật đất dưới tán rừng thực nghiệm núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp

Đặc điểm sinh vật đất dưới tán rừng thực nghiệm núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp
Lâm học 
 65TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT ĐẤT DƯỚI TÁN RỪNG THỰC NGHIỆM NÚI LUỐT, 
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP 
Phạm Thị Hiền1, Nguyễn Thị Bích Phượng2, Lê Thị Khiếu3, Nguyễn Thị Bích Hòa4 
1,2,3,4Trường Đại học Lâm nghiệp 
TÓM TẮT 
Sinh vật đất đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả các quá trình lý, hóa và sinh học đất. Kết quả nghiên cứu 
chỉ ra rằng, các tính chất lý hoá học tại khu vực nghiên cứu là môi trường sống khá thuận lợi cho động vật đất. 
Trong đó, dung trọng đất từ 1,25 - 1,72 g/cm3, tỷ trọng là 2,59 - 2,85 g/cm3, độ xốp đạt 39,50 - 51,66% và 
thành phần cơ giới đất thuộc loại đất thịt nhẹ đến trung bình; pHKCl từ 4,22 - 4,92 thuộc đất chua đến ít chua. 
Hàm lượng chất hữu cơ từ 1,08 - 3,48%, hàm lượng NH4+ từ 1 - 2,62 mg/100 g đất, P2O5 dễ tiêu từ 0,06 - 1,74 
mg/100 g đất, K2O dễ tiêu từ 2,59 - 10,45 mg/100 g đất. Thành phần vi sinh vật đất ở các trạng thái rừng gồm 
90% vi khuẩn, 7 - 8% xạ khuẩn, 1% nấm. Số lượng giun đất dưới rừng trồng Thông + cây bản địa trung bình 
69.100 con/ha, Keo + CBĐ khoảng 40.900 con/ha và Bạch đàn trắng trung bình 26.400 con/ha. Số lượng vi 
sinh vật đất và giun đất cao nhất ở lớp đất mặt 0 - 10 cm, giảm dần ở các lớp đất dưới sâu và cao nhất ở rừng 
Thông + cây bản địa, sau đó là Keo + cây bản địa và thấp nhất là rừng Bạch đàn trắng. Sự khác biệt này chủ 
yếu do độ pH và hàm lượng CHC trong đất giảm dần theo độ sâu tầng đất và các trạng thái rừng trên. Kết quả 
trên góp phần xây dựng và củng cố thêm cơ sở dữ liệu về mối quan hệ giữa thành phần loài cây, độ sâu tầng đất 
đến sự phân bố của vi sinh vật và động vật đất. 
Từ khóa: Giun đất, sinh vật đất, tính chất lý hoá đất, trạng thái rừng, vi sinh vật đất. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Sinh vật đất là một bộ phận không thể tách 
rời trong quá trình hình thành và sự phát triển 
hệ sinh thái đất. Sinh vật đất đóng vai trò quan 
trọng trong các chức năng của hệ sinh thái đất 
như cải thiện tính chất lý học đất; thực hiện 
vòng tuần hoàn dinh dưỡng, các quá trình sinh 
hoá có liên quan đến enzyme đất; sự hình 
thành, tích luỹ và chuyển hoá chất hữu cơ 
trong đất (Paul, E. A., 2015). Trong đó, sinh 
vật sinh tồn trong đất như giun đất, các động 
vật cỡ nhỏ và vi sinh vật đất đóng vai trò đặc 
biệt quan trọng trong việc hình thành, cải thiện 
và duy trì kết cấu đất; thúc đẩy quá trình phân 
huỷ chất hữu cơ, khoáng hoá chất dinh dưỡng; 
kiểm soát các quần thể gây bệnh cho đất và 
thực vật (Wolters, V., 2001). 
Trên thực tế, thành phần, số lượng và mức 
độ hoạt động của các nhóm sinh vật đất chức 
năng, đặc biệt là vi sinh vật rất nhạy cảm với 
sự thay đổi của loại hình sử dụng đất, như: cấu 
trúc thành phần loài cây, tuổi cây, độ che phủ 
mặt đất, độ sâu tầng đất (Jürgen Bauhus và 
cộng sự, 1998; Volkmar Wolters, 2001). 
Một điều thú vị là, trong một thời gian dài, 
cộng đồng sinh vật đất và các quần thể vi sinh 
vật đất có thể kiểm soát, thích nghi với sự thay 
đổi môi trường đất và làm cho môi trường này 
thay đổi các đặc tính lý, hoá học (Volkmar 
Wolters, 2001). 
Núi Luốt – khu rừng thực nghiệm được bảo 
vệ nghiêm ngặt trong khoảng thời gian dài là 
một môi trường nghiên cứu tốt về động thái 
của các loài sinh vật đất dưới các kiểu cấu trúc, 
tổ thành loài cây khác nhau. Nghiên cứu này 
góp phần xác định rõ hơn và xây dựng thêm cơ 
sở dữ liệu về mối quan hệ giữa tổ thành loài 
cây, tính chất đất và sự phân bố của các loài 
sinh vật đất dưới tán rừng. 
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu là các tính chất lý 
Lâm học 
 66 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
học, tính chất hoá học, mật độ vi sinh vật đất 
và động vật đất cỡ nhỏ ở 3 trạng thái rừng: Keo 
tai tượng và cây bản địa (Keo TT + CBĐ), 
Thông mã vĩ và cây bản địa (Thông mã vĩ + 
CBĐ), Bạch đàn trắng (BĐT). 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Phương pháp thu thập mẫu đất ngoài 
thực địa 
a) Lập ô tiêu chuẩn và bố trí hệ thống phẫu 
diện đất 
Mỗi trạng thái rừng tiến hành lập 3 ô tiêu 
chuẩn với diện tích là 500 m2 (25 x 20 m) theo 
phương pháp sử dụng trong Lâm học và Điều 
tra rừng. Trong mỗi ô tiêu chuẩn chọn 3 vị trí 
đào phẫu diện đất có các điều kiện đại diện cho 
trạng thái rừng trồng để đảm bảo tính đồng 
nhất và tính chính xác của kết quả nghiên cứu 
bởi rừng là một thể không đồng nhất (Shiver 
and Borders, 1996). Các đặc điểm của hệ thống 
phẫu diện đất nghiên cứu được thống kê trong 
bảng 01. 
Bảng 01. Một số đặc điểm của hệ thống phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu 
(Giá trị trung bình của 3 mẫu/trạng thái rừng) 
TT 
Trạng thái 
rừng trồng 
Số tầng 
tán 
1.3(cm) vn(m) 
Độ tàn 
che 
Độ che phủ 
(%) 
Tổ thành rừng 
1 
Thông mã vĩ + 
CBĐ 
2 27 22,3 0,5 - 0,9 40 - 80 
Thông mã vĩ, Re 
hương, Côm tầng, 
Quế, Dẻ... 
2 
Keo TT 
+ CBĐ 
2 25,5 26,9 0,5 - 0,7 85 - 90 
Keo tai tượng, Sữa, 
Me rừng... 
3 Bạch đàn trắng 1 28,4 25,2 0,2 - 0,3 90 - 95 Bạch đàn trắng 
b) Phương pháp thu thập mẫu đất 
* Mẫu đất phân tích tính chất lý hoá học đất 
Trong mỗi phẫu diện đất, mẫu đất được lấy 
ở các điểm ngẫu nhiên trộn và tạo thành một 
mẫu tổng hợp thuộc 3 độ sâu: 0 - 10 cm, 10 - 
20 cm và 20 - 30 cm. Mẫu đất tổng hợp ở từng 
độ sâu được lấy với khối lượng 0,5 - 1 kg và 
được xử lý theo quy trình của Viện Nông hoá 
thổ nhưỡng để dùng phân tích tính chất lý hoá 
học đất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông 
thôn, 2008). Tổng số mẫu đất phân tích tính 
chất lý hoá học đất là 27 mẫu đất. 
* Mẫu đất phân tích thành phần, số lượng vi 
sinh vật đất 
Các mẫu đất dùng để phân tích số lượng vi 
sinh vật được thu thập ở lớp đất mặt thuộc độ 
sâu 0 - 10 cm, vì đây là nơi phân bố chủ yếu 
của vi sinh vật đất. Phương pháp hỗn hợp được 
áp dụng để thu thập mẫu phân tích vi sinh vật. 
Mỗi ô tiêu chuẩn lấy 1 mẫu đất tổng hợp từ 5 
điểm ngẫu nhiên riêng biệt. Mỗi mẫu lấy 
khoảng 0,5 - 1 kg, trộn đều và bảo quản trong 
túi nilon (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông 
thôn, 2008). Các mẫu đất được lấy vào sáng 
sớm và tiến hành phân tích ngay khi vận 
chuyển về phòng thí nghiệm. Tổng số mẫu đất 
phân tích là 09 mẫu. 
2.2.2. Phương pháp điều tra thành phần, số 
lượng động vật đất dưới tán rừng 
a) Điều tra giun đất 
Trên mỗi ô tiêu chuẩn, đào 30 hố với diện 
tích 1m2 đếm trực tiếp số lượng giun đất ở 3 độ 
Lâm học 
 67TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
sâu: 0 - 10 cm, 10 - 20 cm, 20 - 30 cm. 
b) Điều tra các loại động vật cỡ nhỏ khác 
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, lập 5 ô dạng bản 
gồm bốn ô ở góc và một ô ở trung tâm để điều 
tra động vật đất bằng phương pháp đếm trực 
tiếp. Tần suất xuất hiện các loài động vật đất 
được xác định bằng tỷ lệ % của các ô có các 
loài động vật đất trên tổng số ô điều tra. 
2.2.3. Phương pháp phân tích đất trong 
phòng thí nghiệm 
a) Phương pháp phân tích tính chất lý hoá 
học đất 
Các mẫu đất được phân tích theo những 
phương pháp trong bảng 02. 
Bảng 02. Một số phương pháp phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm 
TT Chỉ tiêu Phương pháp phân tích 
1 Tỷ trọng Tỷ trọng 
2 Dung trọng Dung trọng 
3 Độ xốp Công thức tính toán 
4 Thành phần cơ giới TCVN 4198:2014 
5 pHKCl Đo bằng máy pH-Meter 
6 Hàm lượng CHC (%) TCVN 8726:2012 
7 NH4
+ (mg/100 g đất) TCVN 5255:2009 
8 P2O5 dễ tiêu (mg/100 g đất) TCVN 5626:2009 
9 K2O dễ tiêu (mg/100 g đất) TCVN 8662:2011 
b) Phương pháp phân tích thành phần, số 
lượng vi sinh vật đất 
Các mẫu đất được tiến hành phân tích tại 
phòng thí nghiệm vi sinh vật - Viện Công nghệ 
sinh học Lâm nghiệp theo phương pháp đếm số 
lượng khuẩn lạc trên môi trường thạch đĩa phù 
hợp cho từng nhóm vi sinh vật: 
+ Kiểm tra tổng số vi khuẩn, sử dụng môi 
trường thạch - nước thịt - pepton, chuẩn pH = 
7, khử trùng ở 1 atm trong 30 phút. 
+ Kiểm tra số lượng và phân lập xạ khuẩn, 
sử dụng phương pháp thạch đĩa với môi trường 
dành riêng cho xạ khuẩn Gause I, chuẩn pH = 
7,2 - 7,4; khử trùng ở 1 atm trong 30 phút. 
+ Kiểm tra số lượng và phân lập nấm mốc, 
sử dụng phương pháp thạch đĩa chứa môi 
trường Crapek, chuẩn pH = 6,0; khử trùng ở 1 
atm trong 30 phút. 
Tính số tế bào trong 1 g đất từ số khuẩn lạc 
đo đếm được bằng công thức: 
CFU = A.1/K.1/V 
Trong đó: 
A: là số lượng tế bào khuẩn lạc mọc trên đĩa 
ở cùng nồng độ pha loãng; 
K: độ pha loãng của dịch đất được cấy gạt 
trên đĩa; 
V: thể tích của của dịch pha loãng được cấy 
trên đĩa. 
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu 
Số liệu thu thập được phân tích bằng phần 
mềm SPSS ver.20: Phân tích tương quan giữa 
các nguyên tố đa lượng và hàm lượng CHC 
trong đất. Kiểm tra sự khác biệt các chỉ tiêu lý 
hoá học đất, vi sinh vật, động vật đất dưới các 
Lâm học 
 68 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
trạng thái rừng và giữa các độ sâu tầng đất 
bằng mô hình tuyến tính hỗn hợp. Kiểm tra 
mối quan hệ giữa số lượng vi sinh vật đất, giun 
đất và các chỉ tiêu lý hoá học đất bằng mô hình 
phân tích thành phần chính. Biểu thị sự khác 
biệt của các biến giữa các trạng thái rừng và giữa 
các độ sâu tầng đất bằng công cụ vẽ biểu đồ. 
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 
3.1. Tính chất lý học đất dưới các trạng thái 
rừng trồng 
Động vật đất nói chung và vi sinh vật đất 
nói riêng chủ yêu chịu sự tác động của các yếu 
tố môi trường đất như tính chất lý học, tính 
chất hoá học đất (Huỳnh Thị Kim Hối, 2006). 
Thông qua các hoạt động sống, chúng góp 
phần to lớn trong việc cải tạo đất và duy trì hệ 
sinh thái đất. Do vậy, nghiên cứu đặc điểm 
“môi trường sống” là rất cần thiết. 
Bảng 03. Một số tính chất lý học cơ bản dưới các trạng thái rừng trồng 
Trạng thái 
rừng 
Độ sâu 
(cm) 
Dung 
trọng 
(g/cm3) 
Tỷ trọng 
(g/cm3) 
Độ 
xốp 
(%) 
Thành phần cơ giới (%) 
Hạt cát 
(2 - 0,02 mm) 
Hạt limon 
(0,02 - 0,002 
mm) 
Hạt sét 
(< 0,002 mm) 
Thông mã 
vĩ + CBĐ 
0 – 10 1,53 2,77 44,80 24,99 53,40 21,61 
10 – 20 1,61 2,82 42,83 24,46 55,44 20,10 
20 – 30 1,72 2,83 39,50 24,31 55,79 19,90 
Keo TT + 
CBĐ 
0 – 10 1,25 2,59 51,66 26,82 53,62 19,56 
10 – 20 1,51 2,81 46,01 26,63 48,00 25,37 
20 – 30 1,50 2,85 47,32 23,16 52,44 24,41 
Bạch đàn 
trắng 
0 – 10 1,41 2,77 49,15 23,85 46,56 29,59 
10 – 20 1,55 2,79 44,65 26,40 48,88 24,71 
20 – 30 1,52 2,81 46,12 23,39 44,67 31,94 
* Dung trọng (g/cm3) 
Giá trị dung trọng đất ở các trạng thái trồng 
rừng dao động từ 1,25 - 1,72 g/cm3 thuộc loại 
đất bị nén ít đến nén chặt (TLTK). Trong đó, 
dung trọng giữa trạng thái rừng Thông mã vĩ + 
CBĐ và trạng thái rừng Keo + CBĐ, Bạch đàn 
trắng không có sự khác biệt, giá trị Sig. lần 
lượt là 0,089; 0,338, xem bảng 03. 
Tại các độ sâu khác nhau của các trạng thái 
rừng, có sự sai khác rõ rệt giữa giá trị dung 
trọng ở tầng đất mặt 0 - 10 cm so với các tầng 
phía dưới từ 10 - 30 cm (Sig = 0,016), trong 
khi đó, giá trị này không có sự khác biệt giữa 
tầng 10 - 20 cm và 20 - 30 cm (Sig = 0,758). 
Đất tầng mặt ở trạng thái rừng Thông mã vĩ + 
CBĐ và Bạch đàn trắng thuộc loại đất bị nén ít 
(1,20 g/cm3), trong khi đó ở trạng thái rừng 
Keo + CBĐ thuộc loại đất bị nén chặt (1,33 
g/cm3). Đặc điểm này ảnh hưởng đến sự phân 
bố của VSV và giun đất ở các trạng thái rừng, 
xem mục 3.3. 
* Tỷ trọng (g/cm3) 
Tỷ trọng đất ở các trạng thái rừng trồng dao 
động trong khoảng 2,59 - 2,85 g/cm3. Ở các 
Lâm học 
 69TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
trạng thái trồng rừng, tỷ trọng giữa trạng thái 
rừng Thông mã vĩ + CBĐ và Bạch đàn trắng 
và Thông mã vĩ + CBĐ và Keo + CBĐ không 
có sự khác biệt (tương ứng Sig = 0,770; 0,408). 
Giá trị tỷ trọng ở các trạng thái rừng dao động 
trong khoảng từ: 2,35 - 2,89, đặc trưng cho đất 
dưới rừng (Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ 
Thanh Hoa, 2000). Tại các độ sâu khác nhau 
của các trạng thái rừng, có sự sai khác rõ rệt 
giữa giá trị tỷ trọng ở tầng mặt 0 - 10 cm so với 
các tầng phía dưới từ 10 - 30 cm (Sig = 0,009), 
đặc biệt là ở trạng thái rừng Keo + CBĐ, trong 
khi đó, giá trị này không có sự khác biệt giữa 
tầng 10 - 20 cm và 20 - 30 cm (Sig = 0,523). 
* Độ xốp (%) 
So sánh 3 trạng thái rừng cho thấy không có 
sự khác biệt về độ xốp giữa trạng thái rừng 
Thông mã vĩ + CBĐ và Bạch đàn trắng (Sig.= 
0,074); trạng thái rừng Thông mã vĩ + CBĐ và 
Keo + CBĐ (Sig = 0,467). Độ xốp đất ở các 
trạng thái trồng rừng dao động từ 39,50% –
51,66%. Trong đó, độ xốp đất dưới trạng thái 
rừng Keo + CBĐ cao hơn so với 2 trạng thái 
rừng còn lại. 
Ở các độ sâu khác nhau trong cùng một 
trạng thái rừng trồng, có sự sai khác giữa giá 
trị độ xốp ở đất tầng mặt 0 - 10 cm so với các 
tầng phía dưới (Sig = 0,03), nhưng độ xốp 
không có sự khác biệt giữa độ sâu 10 - 20 cm 
và 20 - 30 cm (Sig = 0,644). Bởi càng theo 
chiều sâu phẫu diện, tỷ lệ hạt limon và sét tăng, 
tỷ lệ mùn giảm dẫn đến sự liên kết chặt hơn 
của các phần tử đất và độ xốp đất giảm (Paul, 
E. A., 2015) . 
*Thành phần cơ giới đất 
Thành phần cơ giới đất là nhân tố quan 
trọng sự hình thành và bền vững của đoàn lạp 
đất – đơn vị cơ bản của kết cấu đất. Sự khác 
biệt về kết cấu đất sẽ kéo theo sự biến đổi về 
các chế độ nhiệt, độ ẩm, thể tích không khí 
xâm chiếm trong đất; từ đó, ảnh hưởng trực 
tiếp đến các sự phân bố và các hoạt động sống 
của các loài vi sinh vật, động vật sống trong 
đất (Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh 
Hoa, 2000). 
Sự khác biệt về thành phần cơ giới đất phụ 
thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau như tính 
chất đá mẹ hình thành nên đất, sự phân giải và 
tích luỹ chất hữu cơ và mùn trong đất, bản chất 
của thành phần chất hữu cơ nguồn gốc từ thành 
phần loài cây trồng ở tầng tán chính (Blume và 
cộng sự, 2016). 
Đất dưới ba trạng thái rừng trồng có thành 
phần cơ giới cơ giới là đất thịt đến thịt nhẹ (Bộ 
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008). 
Thành phần cấp hạt cát giữa 3 trạng thái rừng 
không có sự khác biệt (Sig > 0,05); xem bảng 
03. Tuy nhiên, thành phần cấp hạt limon và sét 
có sự khác biệt rừng Thông + CBĐ và Bạch 
đàn trắng với Sig lần lượt là 0,002 và 0,007. 
Môi trường đất thịt là môi trường tốt cho sự 
sinh sản và hoạt động của vi sinh vật hảo khí 
cũng như giun đất bởi sự điều tiết nhiệt độ, độ 
ẩm và không khí rất tốt (Hà Quang Khải, Đỗ 
Đình Sâm, Đỗ Thanh Hoa, 2000). 
3.2. Tính chất hoá học đất dưới các trạng 
thái rừng trồng 
Sự sinh tồn và phát triển của động vật đất 
phụ thuộc lớn vào môi trường hoá học đất 
(Paul, E. A., 2015). 
Thành phần loài thực vật khác nhau thông 
qua lượng vật rơi rụng, quá trình phân giải, 
tổng hợp chất hữu cơ và mùn sẽ ảnh hưởng 
trực tiếp đến pH đất, hàm lượng CHC trong đất 
và hàm lượng các chất dinh dưỡng đa lượng dễ 
tiêu: NH4
+, P2O5 dễ tiêu, K2O dễ tiêu. 
Lâm học 
 70 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
* pHKCl 
pHKCl ở các trạng thái rừng trồng, Keo và 
Bạch đàn khác nhau (Sig = 0,03), trong đó, 
đất trồng rừng Bạch đàn chua hơn đất trồng 
Keo + CBĐ, Thông và BĐT không khác biệt 
(Sig = 0,976). Bùi Thị Huế, 1996 chỉ ra rằng 
quá trình rửa trôi dinh dưỡng, sét và các ion 
kiềm dưới rừng Bạch đàn diễn ra mạnh làm 
cho đất chua và nghèo dinh dưỡng hơn so với 
những loài cây lá rộng khác. Bên cạnh đó, quá 
trình phân huỷ vật rơi rụng từ Thông – thuộc 
cây lá kim diễn ra chậm, hàm lượng axit fulvic 
cao là nguyên nhân gây phản ứng chua cho đất 
(Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh 
Hoa, 2000). Tuy nhiên, ở các độ sâu từ 0 - 10 
cm, 10 - 20 cm và 20 - 30 cm, pHKCl không có 
sự khác biệt (giá trị lần lượt giữa các cặp độ 
sâu là Sig = 0,187 và Sig = 0,918. Như vậy, 
phản ứng của đất ở các trạng thái rừng dao 
động trong khoảng từ 4,0 - 5,5 thuộc loại đất 
chua đến ít chua (Bộ Nông nghiệp và Phát 
triển nông thôn, 2008). Đây là phản ứng đặc 
trưng của đất Feralit vùng nhiệt đới ảnh hưởng 
đến sự sinh tồn và phân bố của các loại vi sinh 
vật và động vật trong đất (Hà Quang Khải, Đỗ 
Đình Sâm, Đỗ Thanh Hoa, 2000). 
* Hàm lượng chất hữu cơ (OM%) 
Hàm lượng CHC dao động trong khoảng 
1,08 - 3,48% cho thấy đất tại các trạng thái 
rừng có hàm lượng CHC từ nghèo đến trung 
bình (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 
2008). Hàm lượng CHC giữa các trạng thái 
rừng trồng ít khác biệt, giá trị Sig = 0,342 và 
Sig = 0,220 lần lượt cho rừng Thông + CBĐ và 
BĐT; Keo + CBĐ và BĐT. Hoàng Xuân Tý, 
1985 kết luận rằng hàm lượng CHC dưới rừng 
trong điều kiện khí hậu nước ta bị thay đổi do 
tác động của thảm thực vật che phủ. Độ che 
phủ mặt đất giữa các trạng thái rừng tương đối 
giống nhau (60 - 80%), mặt khác, điều kiện 
thời tiết trên toàn khu vực nghiên cứu không 
có sự khác biệt nhiều nên quá trình phân giải 
chất hữu cơ của các loài cây tầng cao ở trạng 
thái rừng tương đối giống nhau. 
Tuy nhiên, hàm lượng CHC giữa các độ sâu 
có sự khác biệt rất lớn, đặc biệt là tầng 0 - 10 
pHKCl OM (%) 
Hình 01. pHKCl và hàm lượng chất hữu cơ dưới 3 trạng thái rừng trồng 
(Với độ tin cậy = 95%, ± độ lệch chuẩn, n = 3) 
Lâm học 
 71TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
cm so với các tầng phía dưới (Sig = 0,000), 
trong khi đó, giữa tầng 10 - 20 cm và tầng 20 - 
30 cm không có sự khác biệt nào (Sig = 0,122). 
Điều này được giải thích là do tầng mặt là nơi 
tập trung hầu hết vật rơi rụng, hơn nữa đây 
cũng là nơi vi sinh vật phân bố nhiều nhất nên 
hàm lượng CHC đạt giá trị cao nhất (Blume và 
cộng sự, 2016). 
* Hàm lượng các nguyên tố đa lượng 
Sự thay đổi các trạng thái thực vật cũng dẫn 
đến sự khác nhau về hàm lượng các nguyên tố 
đa lượng trong đất như NH4
+, P2O5 dễ tiêu, 
K2O dễ tiêu. 
Ở các trạng thái rừng, hàm lượng NH4
+, 
P2O5 dễ tiêu không có sự khác biệt nào giữa 
trạng thái rừng Thông mã vĩ + CBĐ và Keo + 
CBĐ, Bạch đàn trắng với Sig. lần lượt là 
0,996; 0,174 (với NH4
+) và 0,248; 0,784 (với 
P2O5 dễ tiêu). Tuy nhiên, hàm lượng K2O ở 
rừng Bạch đàn trắng cao hơn so với rừng 
Thông + CBĐ và Keo + CBĐ; với giá trị Sig. 
tương ứng là 0,006 và 0,033. 
Ở các độ sâu khác nhau, hàm lượng NH4
+, 
P2O5 dễ tiêu, K2O dễ tiêu đều có sự khác biệt 
lớn giữa tầng mặt 0 - 10 cm với các tầng phía 
dưới với giá trị Sig đều đạt 0,000 và hàm 
lượng các nguyên tố này không có sự khác biệt 
nào giữa tầng 10 - 20 cm và 20 - 30 cm (Sig = 
0,471; 0,196; 0,268 tương ứng với NH4
+, P2O5 
dễ tiêu, K2O dễ tiêu), xem hình 02. 
Vòng tuần hoàn các nguyên tố dinh dưỡng 
đa lượng trong đất phụ thuộc lớn vào mức độ 
tích luỹ và phân giải chất hữu cơ nguồn gốc vật 
rơi rụng (Schroth, 2003). Sự biến động của các 
nguyên tố dinh dưỡng tương quan với sự thay 
đổi chất hữu cơ theo trạng thái rừng và theo độ 
sâu. Hàm lượng NH4
+, P2O5 dễ tiêu có mối 
tương quan khá chặt với hàm lượng CHC trong 
đất với R2 lần lượt là 0,61 và 0,66; trong khi 
đó, K2O dễ tiêu có tương quan rất yếu với hàm 
lượng hữu cơ (R2 = 0,09), bởi theo Blume và 
cộng sự, 2016, phần lớn kali trong đất không 
có nguồn gốc từ chất hữu cơ mà chủ yếu từ 
thành phần khoáng ở trong đất. 
3.3. Thành phần và số lượng vi sinh vật đất 
dưới ba trạng thái rừng 
Chất hữu cơ trong đất chứa khoảng hơn 
NH4
+ dễ tiêu (mg/100g đất) P2O5 dễ tiêu (mg/100g đất) K2O dễ tiêu (mg/100g đất) 
Hình 02. Hàm lượng các chất dễ tiêu dưới 3 trạng thái rừng trồng 
(Với độ tin cậy = 95%, ± độ lệch chuẩn, n = 3) 
Lâm học 
 72 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
95% nitơ của đất, 5 - 60% photpho tổng số và 
khoảng 30% lưu huỳnh. Hoạt động phân giải 
chất hữu cơ của vi sinh vật đất là mấu chốt của 
việc giải phóng các nguyên tố dinh dưỡng quan 
trọng (C, N, P), cải thiện độ phì đất (Sidhu, 
1998). Sự khác nhau về tính chất lý hoá học và 
thành phần chất hữu cơ dưới các trạng thái 
rừng dẫn đến sự khác nhau về số lượng và sự 
phân bố vi sinh vật đất. 
Hình 03. Thành phần và số lượng vi sinh vật đất dưới 3 trạng thái rừng trồng 
(Với độ tin cậy = 95%, ± độ lệch chuẩn, n = 3) 
Thành phần loài vi sinh vật đất ở các trạng 
thái rừng đều xuất hiện 3 loại chính gồm vi 
khuẩn, xạ khuẩn và nấm. Ở tất cả các trạng thái 
rừng, số lượng vi khuẩn chiếm 90%, xạ khuẩn 
chiếm khoảng 7 – 8%, nấm 1% tổng số loài vi 
sinh vật đất điều tra, kết quả điều tra phù hợp 
với Trần Cẩm Vân, 1993; Bùi Thị Huế, 1996. 
Trong đó, số lượng vi khuẩn phân bố ở rừng 
trồng Thông + CBĐ là thấp nhất (253,3.106 
CFU/100g đất) và cao nhất ở rừng trồng Keo + 
CBĐ (274,3.106 CFU/100g đất). Vật liệu rơi 
rụng ở rừng trồng Thông thường chứa nhiều 
lignhin và khó bị phân giải bởi vi sinh vật (Hà 
Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh Hoa, 
2000), nên sự tích luỹ vật rơi rụng trong thời 
gian dài dẫn đến sự hoạt động mạnh của nấm 
mốc. Chính vì vậy, sự phân bố nấm ở tầng đất 
mặt ở trạng thái rừng này cao hơn (5,7.106 
CFU/100g đất) so với hai trạng thái rừng còn 
lại đều đạt 2,7.106 CFU/100g đất. 
3.4. Sự phân bố động vật đất dưới ba trạng 
thái rừng 
3.4.1. Mật độ giun đất dưới các trạng thái 
rừng trồng 
Giun đất là một thành phần chính, chiếm tỷ 
lệ lớn trong sinh khối của tập đoàn động vật cỡ 
lớn trong các hệ sinh thái đất vùng nhiệt đới 
ẩm (Lavelle và cộng sự, 1999). Từ các hoạt 
động đào bới, giun đất tạo ra các đoàn lạp đất 
và lỗ hổng trong đất hoặc trên bề mặt đất ảnh 
hưởng trực tiếp đến đặc tính vật lý, tuần hoàn 
dinh dưỡng đất và tăng trưởng thực vật (Lal, 
1999; Scheu, 2003). Sự phân bố của giun đất 
thường rất đa dạng và số lượng dao động phụ 
thuộc vào yếu tố như tính chất lý hoá học đất và 
thảm thực vật (Sharanpreet và cộng sự, 2016). 
Lâm học 
 73TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
Hình 04. Mật độ giun đất dưới các loại hình rừng tại khu vực nghiên cứu 
(Với độ tin cậy = 95%, ± độ lệch chuẩn, n = 3) 
Mật độ giun đất phân bố không giống nhau 
dưới các trạng thái rừng. Mật độ giun đất ở 
rừng Thông + CBĐ có sự khác biệt với rừng 
Bạch đàn trắng (Sig = 0,02), không khác biệt 
với rừng Keo + CBĐ (Sig = 0,316), xem hình 
04. Mật độ giun giảm từ đất rừng trồng Thông 
+ CBĐ trung bình 6,91 con/m2 (tương đương 
với 69.100 con/ha), Keo + CBĐ có mật độ 
trung bình 4,09 con/m2 (tương đương với 
40.900 con/ha) và Bạch đàn thuần loài với mật 
độ trung bình 2,64 con/m2 (tương đương với 
26.400 con/ha). Sở dĩ có sự khác biệt này là 
do, độ pH và hàm lượng CHC trong đất của 
trạng thái rừng Thông + CBĐ > Keo+ CBĐ > 
Bạch đàn trắng, xem hình 01. pH và hàm 
lượng OM là yếu tố môi trường sống và nguồn 
thức ăn quan trọng quyết định đến sự phong 
phú loài và mật độ giun phân bố trong đất. pH 
càng tăng và hàm lượng CHC càng nhiều thì 
mật độ giun đất càng lớn. 
Mật độ giun đất ở tầng mặt khác biệt so với 
tầng 10 - 20 cm và 20 - 30 cm với giá trị Sig. 
lần lượt là 0,010 và 0,044. Mật độ giun đất ở 
tất cả các trạng thái rừng đều giảm theo chiều 
sâu tầng đất tương đồng với sự giảm độ pH và 
hàm lượng OM (hình 01). 
3.4.2. Một số loại động vật đất cỡ nhỏ dưới 
các trạng thái rừng trồng 
Động vật đất (ĐVĐ) cỡ nhỏ thông qua các 
hoạt động sống cũng góp phần không nhỏ 
trong việc phân huỷ, cải thiện tính chất lý học 
cho đất. Chúng cũng là những nhân tố trong 
việc hỗ trợ và điều chỉnh một số chức năng của 
hệ sinh thái. Bên cạnh đó, động vật đất là một 
trong những thành phần chính của mạng lưới 
thức ăn trên và trong đất. 
Bảng 04. Tần suất bắt gặp một số loài ĐVĐ cỡ nhỏ dưới các trạng thái rừng 
TT Nhóm loài 
Tần suất bắt gặp một số loài động vật đất (%) 
Thông mã vĩ + CBĐ Keo TT + CBĐ Bạch đàn trắng 
1 Dế 33,3 6,7 20,0 
2 Gián đất 86,7 66,7 93,3 
3 Kiến 80,0 66,7 80,0 
4 Mối 60,0 60,0 80,0 
5 Nhện 33,3 13,3 26,7 
6 Rết 53,3 46,7 66,7 
7 Bọ cánh cứng 26,7 53,3 6,7 
Lâm học 
 74 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
Tất cả các loài ĐVĐ nghiên cứu đều gặp ở 
các trạng thái rừng, thể hiện ở bảng 04. Tuy 
nhiên, tần suất bắt gặp hầu hết các loài thường 
theo thứ tự: rừng Thông + CBĐ > Bạch đàn 
trắng > Keo + CBĐ. Tốc độ phân huỷ chất hữu 
cơ chậm ở rừng Thông + CBĐ và Bạch đàn 
trắng có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự 
khác biệt này. Bởi với độ ẩm và chất khoáng 
được sinh ra từ các vật liệu chất hữu cơ chưa 
phân giải hoàn toàn là môi trường sống lý tưởng 
cho các loài động vật trên, đặc biệt là Gián, 
Mối, Kiến, Dế, Rết, Nhện và Bọ cánh cứng. 
3.5. Mối quan hệ giữa tính chất lý hoá học 
đất và sự phân bố VSV, động vật đất dưới 
các trạng thái rừng 
Các trạng thái rừng với các tính chất lý hoá 
học đất khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến 
sự phân bố của vi sinh vật đất và động vật đất 
cỡ nhỏ. Mối quan hệ tổng hợp giữa các chỉ tiêu 
lý học, hoá học đất với số lượng VSV đất và 
giun đất ở các trạng thái rừng trồng được thể 
hiện ở hình 05. 
Hình 05. Phân tích thành phần chính ảnh hưởng đến số lượng giun đất (1) và vi sinh vật đất (2) 
Sự phân bố của vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm 
có mối liên hệ chặt với độ xốp của đất, hàm 
lượng OM, NH4
+, P2O5 dễ tiêu, K2O dễ tiêu, 
thành phần cơ giới (hàm lượng cát, sét, limon) 
và có mối tương quan tỷ lệ nghịch với pH đất, 
dung trọng và tỷ trọng đất, xem hình 05. Môi 
trường thuận lợi cho sự sinh sản và phân bố 
VSV háo khí trong đất gồm: độ xốp đất cao, 
đất thịt (hàm lượng limon cao) và độ pH cao. 
Nguồn thức ăn là hàm lượng OM, NH4
+ là hai 
nhân tố điều chỉnh sự phân bố của VSV ở các 
sinh cảnh. 
Thành phần cơ giới, hàm lượng OM, hàm 
lượng NH4
+có mối quan hệ tỷ lệ thuận với số 
lượng giun đất dưới các trạng thái rừng trồng. 
Hàm lượng OM và NH4
+càng cao có nghĩa là 
“thức ăn” của giun đất càng nhiều và do đó, số 
lượng giun đất ở trạng thái rừng Thông + CBĐ 
> Keo + CBĐ > Bạch đàn trắng và đất tầng 
mặt 0 - 10 cm > 10 - 20 cm > 20 - 30 cm. 
Ngược lại, hàm lượng sét và pH có mối quan 
hệ tỷ lệ nghịch với số lượng giun đất. Càng 
xuống các tầng đất dưới sâu, hàm lượng sét 
càng tăng và sự phân bố giun đất càng giảm. 
pH càng cao thì mật độ giun càng lớn, bởi môi 
trường sống lý tưởng của chúng là pH khoảng 
từ 4,5 - 5,5 (Kauffman, 1995). 
IV. KẾT LUẬN 
Dung trọng đất tại khu vực nghiên cứu dao 
động trong khoảng 1,25 - 1,72 g/cm3, tỷ trọng 
là 2,59 - 2,85g/cm3, độ xốp đạt 39,50% - 
51,66%. Thành phần cơ giới của đất có hàm 
lượng hạt cát (23,16% - 26,82%), limon (48% - 
55,79%), sét (19,56% - 29,59%) thuộc loại đất 
Lâm học 
 75TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017 
thịt trung bình đến thịt nhẹ. Ở các trạng thái 
rừng, pH dao động trong khoảng 4,22 - 4,92 
thuộc đất chua đến ít chua. Hàm lượng CHC 
dao động trong khoảng 1,08 - 3,48% thuộc loại 
đất có hàm lượng CHC từ nghèo đến trung 
bình. Hàm lượng NH4
+ trong khoảng từ 1 - 
2,62 mg/100 g đất, P2O5 dễ tiêu từ 0,06 - 1,74 
mg/100 g đất và K2O dễ tiêu từ 2,59 - 10,45 
mg/100 g đất. 
Thành phần VSV đất ở các trạng thái rừng 
gồm 90% vi khuẩn, 7 – 8% xạ khuẩn, 1% nấm. 
Mật độ giun đất dưới rừng trồng Thông + CBĐ 
trung bình 6,91 con/m2 (tương đương với 
69.100 con/ha), Keo + CBĐ có mật độ trung 
bình 4,09 con/m2 (tương đương với 40.900 
con/ha) và Bạch đàn thuần loài với mật độ 
trung bình 2,64 con/m2 (tương đương với 
26.400 con/ha). Các loài động vật đất cỡ nhỏ 
khác (Dế, Gián đất, Kiến, Mối, Nhện, Rết, Bọ 
cánh cứng...) đều gặp ở tất cả các trạng thái 
rừng. Sự phân bố của vi sinh vật đất và giun 
đất có mối liên hệ chặt với độ xốp của đất, hàm 
lượng CHC, NH4
+, P2O5 dễ tiêu, K2O dễ tiêu, 
thành phần cơ giới (hàm lượng cát, sét, limon) 
và có mối tương quan tỷ lệ nghịch với pH đất, 
dung trọng và tỷ trọng đất. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008)., 
Cẩm nang sử dụng đất Nông nghiệp, Tập 7, Phương 
pháp phân tích đất. NXB. Khoa học - Kỹ thuật. 
2. Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh Hoa 
(2000). Giáo trình Đất Lâm nghiệp. NXB. Nông nghiệp, 
Hà Nội. 
3. Luxton, H. P. a. M. (1982). A comparative 
analysis of soil fauna populations and their role in 
decomposition processes. Oikos, 39(3): 288-388. 
4. Paul, E. A. (2015). Soil microbiology, ecology 
and biochemistry, Fourth edition. 
5. Wolters, V. (2001). Biodiversity of soil animals 
and its function. Eur. J. Soil Biol., 37: 221-227. 
CHARACTERISTIC OF SOIL ORGANISMS UNDER EXPIREMENTAL 
FORESTS CANOPY OF LUOT MOUTAIN, 
VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY OF FORESTRY 
 Pham Thi Hien1, Nguyen Thi Bich Phuong2, Le Thi Khieu3, Nguyen Thi Bich Hoa4 
1,2,3,4Vietnam National University of Forestry 
SUMMARY 
This study show that the chemical and physical properties of the study area are favorable habitats for soil 
organisms. In which, the density of soil (D) is 1.25 - 1.72 g/cm3, density (d) is 2.59 - 2.85 g/cm3, porosity (P) 
reaches 39.50 - 51.66% and soil texture of light loam to medium loam soils with sand (23.16% - 26.82%), 
limon (48% - 55.79%), clay (19.56% - 29.59%); pHKCl from 4.22 to 4.92 belong to less acidic soil. The content 
of humus is from 1.08 to 3.48% classified from poor to medium, NH4
+ content in the range of 1 - 2.62 mg/100g 
soil, P2O5 readily from 0.06 to 1.74 mg/100g soil, K2O readily from 2.59 - 10.45 mg/100 g soil. Soil organism 
component of all forest types consists of 90% bacteria, 7 - 8% actinomycetes, 1% fungus. The number of 
earthworms (Ews) under Pinus + indegenoustrees (ITs) forest is 69.100 Ews/hectare, Acacia + ITs forest is 
about 40.900 Ews/hectare and Eucalyptus forest is 26.400 Ews/hectare. The amount of soil microorganisms and 
soil fauna (especially earthworms) is positively correlated with some soil physical and chemical propertiesand 
inversely proportional to soil pH. The highest number of soil microorganisms and earthworms were found in 
the topsoil 0 - 10 cm, the lowest in subsoil layers and the highest in Pinus + ITs , followed by Acacia + ITs and 
the lowest was Eucalyptus forest. These differences are mainly due to the low pH and humus content which 
decreases with soil depths. 
Keywords: Earthworms, forest types, soil microorganisms, soil organisms, soil physiochemical properties. 
Ngày nhận bài : 15/8/2017 
Ngày phản biện : 26/9/2017 
Ngày quyết định đăng : 05/10/2017 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_sinh_vat_dat_duoi_tan_rung_thuc_nghiem_nui_luot_tru.pdf