Bài giảng Mạng NGN - Chương 5: Dịch vụ trong mạng NGN

Sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực mạng thông tin cũng như mạng viễn

thông đang diễn ra trong những năm gần đây. Khi sự cạnh tranh gia tăng, điều

đặc biệt quan trọng đối với các công ty là xác định vị trí thích hợp để mang lại

thuận lợi cho bản thân mình, và để chuẩn bị cho môi trường truyền thông mới

đang nổi lên. Trong môi trường này, sự hòa nhập, liên kết và cạnh tranh của

các thành viên mới tham gia vào thị trường phải hoạt động tích cực để tìm ra

phương thức mới, nhằm giữ và thu hút hầu hết các khách hàng có tiềm năng.

Các nhà cung cấp dịch vụ hiện nay đang cố gắng tìm ra lối đi riêng cho mình

để tạo ra sự khác biệt với các nhà cung cấp khác, chẳng hạn như tìm kiếm

phương thức mới để đóng nhãn và đóng gói dịch vụ, thực hiện giảm các chi

phí hoạt động,

Mạng thế hệ mới NGN là bước kế tiếp của thế giới viễn thông, có thể

được hiểu là mạng dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, nơi mà các chuyển

mạch và các phần tử truyền thông (như các bộ định tuyến, các bộ chuyển

mạch và gateway) được phân biệt một cách luận lý và vật lý theo khả năng

điều khiển thông minh dịch vụ hoặc cuộc gọi. Khả năng điều khiển thông

minh này thường hỗ trợ cho tất cả các loại dịch vụ trên mạng truyền thông, từ

dịch vụ thoại cơ bản (Basic Voice Telephony Services) cho đến các dịch vụ dữ

liệu, hình ảnh, đa phương tiện, băng rộng tiên tiến (Advanced Broadband), và

các ứng dụng quản lý (Management Application).

 

pdf 18 trang yennguyen 320
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Mạng NGN - Chương 5: Dịch vụ trong mạng NGN", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Mạng NGN - Chương 5: Dịch vụ trong mạng NGN

Bài giảng Mạng NGN - Chương 5: Dịch vụ trong mạng NGN
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 116 - 
CHƯƠNG 5: 
DỊCH VỤ TRONG MẠNG 
NGN 
----WX---- 
I. GIỚI THIỆU 
Sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực mạng thông tin cũng như mạng viễn 
thông đang diễn ra trong những năm gần đây. Khi sự cạnh tranh gia tăng, điều 
đặc biệt quan trọng đối với các công ty là xác định vị trí thích hợp để mang lại 
thuận lợi cho bản thân mình, và để chuẩn bị cho môi trường truyền thông mới 
đang nổi lên. Trong môi trường này, sự hòa nhập, liên kết và cạnh tranh của 
các thành viên mới tham gia vào thị trường phải hoạt động tích cực để tìm ra 
phương thức mới, nhằm giữ và thu hút hầu hết các khách hàng có tiềm năng. 
Các nhà cung cấp dịch vụ hiện nay đang cố gắng tìm ra lối đi riêng cho mình 
để tạo ra sự khác biệt với các nhà cung cấp khác, chẳng hạn như tìm kiếm 
phương thức mới để đóng nhãn và đóng gói dịch vụ, thực hiện giảm các chi 
phí hoạt động, 
Mạng thế hệ mới NGN là bước kế tiếp của thế giới viễn thông, có thể 
được hiểu là mạng dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, nơi mà các chuyển 
mạch và các phần tử truyền thông (như các bộ định tuyến, các bộ chuyển 
mạch và gateway) được phân biệt một cách luận lý và vật lý theo khả năng 
điều khiển thông minh dịch vụ hoặc cuộc gọi. Khả năng điều khiển thông 
minh này thường hỗ trợ cho tất cả các loại dịch vụ trên mạng truyền thông, từ 
dịch vụ thoại cơ bản (Basic Voice Telephony Services) cho đến các dịch vụ dữ 
liệu, hình ảnh, đa phương tiện, băng rộng tiên tiến (Advanced Broadband), và 
các ứng dụng quản lý (Management Application). 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 117 - 
Hình 5-1 Mạng đa dịch vụ (góc độ dịch vụ) 
Như đã đề cập ở các phần trước, NGN là sự tập trung của ba loại mạng 
chính: mạng thoại PSTN, mạng di động và mạng chuyển mạch gói (mạng 
Internet). Cấu trúc này phân phối toàn bộ các phương thức truy nhập, hầu hết 
các công nghệ và ứng dụng mới. Từ đó tạo ra nhiều dịch vụ mới. 
Hình 5-2 Cấu trúc NGN dạng module 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 118 - 
Có ba loại dịch vụ chủ yếu trong NGN: dịch vụ thời gian thực và thời 
gian không thực, dịch vụ nội dung, dịch vụ quản lý. Các dịch vụ này giúp cho 
các nhà khai thác có sự điều khiển, bảo mật và độ tin cậy tốt hơn đồng thời 
giảm chi phí vận hành. Nhờ đó, các nhà cung cấp dịch vụ có thể nhanh chóng 
có nguồn thu mới. 
Xây dựng trên các thành phần mở và được module hóa, trên các giao 
thức chuẩn và các giao diện mở, NGN đã trở thành một phương tiện thực hiện 
mục đích là cho phép kết nối giữa con người và máy móc ở bất cứ khoảng 
cách nào. Nói cách khác, NGN có khả năng cung cấp các yêu cầu đặc biệt của 
tất cả khách hàng công ty, văn phòng ở xa, văn phòng nhỏ, nhà riêng, Nó 
hợp nhất thoại hữu tuyến và vô tuyến, dữ liệu, video, bằng cách sử dụng 
chung một lớp truyền tải gói. Các lớp dịch vụ của NGN linh hoạt, chi phí hiệu 
quả và có khả năng mở rộng hơn đối với các dịch vụ trước đây. 
II. NHU CẦU NGN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ 
Mạng Internet đang xử lý khá tốt tất cả các dịch vụ chúng ta yêu cầu. 
Giải pháp của mạng Internet đơn giản là sử dụng các thiết bị đầu cuối thuê 
bao CPE (Customer Premise Equipment) tiên tiến như PC, smart phone, set-
top-box, Dịch vụ được thực hiện tại các hệ thống đầu cuối. Các xí nghiệp, 
các công ty phần mềm và một số trường Đại học, trung học sẽ phát triển các 
ứng dụng và tải chúng từ mạng Internet đến các thiết bị CPE. Các yêu cầu đối 
với mạng truyền tải công cộng là tính tin cậy và băng thông truyền dẫn cao. 
Như vậy tại sao các nhà cung cấp dịch vụ lại quan tâm đến dịch vụ NGN? 
Tại sao họ không theo phương thức kinh doanh cũ? Sau đây là một số lý do 
tiêu biểu: 
ƒ Nhà cung cấp có thể tồn tại với phương thức cũ (nếu họ may mắn), tuy 
nhiên chắc chắn họ sẽ không thành công. Các nhà cung cấp đang bắt buộc 
cạnh tranh về giá để đảm bảo thu nhập. Trong lúc đó, các đối thủ cạnh 
tranh đưa ra các dịch vụ hấp dẫn để được các khách hàng “béo bở” nhất. 
Do đó nếu nhà cung cấp dịch vụ muốn thành công trong thời đại mới, họ 
buộc phải thêm giá trị vào các dịch vụ truyền thống của mình. NGN hỗ trợ 
các dịch vụ mới tiên tiến nên cho phép họ giữ được các khách hàng quan 
trọng và mở rộng thị trường trong nhiều khu vực mới. 
ƒ Mạng lưới hiện nay không thể cung cấp tất cả các yêu cầu của khách hàng. 
Một điều không thể nghi ngờ là các dịch vụ của một vài khách hàng đang 
chuyển dần ra biên mạng. Nhà cung cấp mạng công cộng không thể chống 
lại khuynh hướng này. Tuy nhiên họ không chấp nhận thất bại. Kinh doanh 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 119 - 
các dịch vụ thông tin mới trở thành một ngành công nghiệp có thể thu về 
hàng tỷ đô la. Cuối cùng có một thực tế là một số người muốn sử dụng các 
dịch vụ mới trên nền CPE, trong khi số khác lại thích dịch vụ trên nền 
mạng. 
ƒ Các dịch vụ trên nền mạng có nhiều ưu điểm. Với một số nhỏ các dịch vụ 
đơn giản không yêu cầu làm việc giữa khách hàng với nhau, các dịch vụ 
trên nền CPE có thể hiệu quả. Tuy nhiên, khi số lượng khách hàng làm 
việc với nhau tăng, các dịch vụ trên nền mạng tỏ ra có nhiều lợi thế hơn. 
Ví dụ, các ứng dụng trên nền mạng linh hoạt hơn và có khả năng mở rộng 
hơn so với các dịch vụ trên nền CPE. Với các ứng dụng trên nền CPE, thiết 
bị CPE cần phải tinh vi, phức tạp hơn (và do đó, đắt tiền hơn) để đảm bảo 
các yêu cầu về các ứng dụng tiên tiến hơn. Giải pháp trên nền mạng cho 
phép chia sẻ tài nguyên và dễ dàng mở rộng để đáp ứng các yêu cầu đó. 
Thứ hai, dịch vụ trên nền CPE khó khăn trong việc cung cấp các dịch vụ 
đối với thuê bao di động. Nếu khách hàng muốn truy nhập vào các dịch vụ 
của họ tại những địa điểm khác nhau, họ cần phải mang thiết bị CPE theo 
hay tải phần mềm từ vị trí mới, lãng phí thời gian và tài nguyên mạng. Với 
các dịch vụ trên nền mạng, khách hàng có thể truy nhập vào các dịch vụ 
của họ bất kể từ vị trí nào. Cuốâi cùng, các vấn đề khách hàng quan tâm 
như tính cước, quản lý cấu hình, dự phòng và các dạng quản lý khác được 
xử lý dễ dàng hơn đối với các dịch vụ trên nền mạng. 
NGN sẽ cho phép các nhà khai thác cung cấp với chi phí hiệu quả của 
các dịch vụ mới phức tạp hơn bằng cách xây dựng một lõi liên hệ với các dịch 
vụ truyền tải truyền thống. Thêm vào đó, việc hợp nhất các ứng dụng NGN 
làm giảm chi phí bằng cách loại bỏ các nhược điểm của các dịch vụ riêng lẻ 
hiện nay. NGN còn giảm thời gian thương mại hóa và xoay vòng vốn nhanh 
hơn khi cung cấp các dịch vụ mới. Và sau cùng, NGN mở rộng các dịch vụ 
tiên tiến, tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng thâm nhập thị trường 
của họ. 
III. YÊU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG 
Sau đây là phân tích yêu cầu của một số khách hàng đặc trưng: 
 Công ty lớn: 
- Dịch vụ VPN cho kết nối nội bộ, và dịch vụ truyền dẫn (chẳng hạn như 
leased line) kết nối với bên ngoài. Có nhu cầu quản lý dịch vụ và 
mạng. 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 120 - 
- Dung lượng băng thông lớn, phân phối băng thông linh hoạt. 
- Yêu cầu QoS là bắt buộc, có sự dự phòng. 
 Công ty trung bình: 
- Dịch vụ VPN cho kết nối nội bộ và các dịch vụ văn phòng kết nối với 
bên ngoài như: thoại, Internet, fax, 
- Dung lượng băng thông trung bình. 
- QoS: quan trọng 
 Công ty nhỏ, văn phòng đặt tại nhà: 
- Dịch vụ kết nối từ xa, dịch vụ văn phòng như thoại, fax, dữ liệu, 
Internet,.. 
- Dung lượng băng thông trung bình. 
- QoS: ít quan trọng. 
 Thuê bao tại nhà 
- Dịch vụ kết nối từ xa và các dịch vụ tại nhà như thoại, Internet, di động, 
giải trí, điều khiển các thiết bị trong nhà, 
- Dung lượng băng thông nhỏ. 
- QoS: ít quan trong. 
IV. DỊCH VỤ NGN 
 1. Xu hướng các dịch vụ trong tương lai 
Để xác định được các dịch vụ trong mạng thế hệ sau cũng như chiến 
lược đầu tư của các công ty, xu hướng phát triển các dịch vụ trong tương lai 
là vấn đề rất cần xem xét. 
 Trước hết chúng ta cần quan tâm đến xu hướng của dịch vụ thoại. Đây 
là dịch vụ phổ biến, lâu đời và thu nhiều lợi nhuận nhất từ những ngày 
đầu cho đến nay. Do đó, dịch vụ thoại truyền thống sẽ tiếp tục tồn tại 
trong thời gian dài. Sau đó, một phần dịch vụ truyền thống này chuyển 
sang thông tin di động và thoại qua IP. 
 Đối với dịch vụ truyền thông đa phương tiện, hiện nay H.323 đã là môi 
trường cho giải pháp thoại qua giao thức IP và các dịch vụ đa phương 
tiện tương đối đơn giản. Tuy nhiên, sau đó SIP sẽ thay thế cho H.232 do 
SIP có nhiều ưu điểm hơn và thích hợp với các dịch vụ truyền thông đa 
phương tiện phức tạp. 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 121 - 
 Trong tương lai, tính cước dịch vụ theo nội dung và chất lượng, không 
theo thời gian sẽ chiếm ưu thế. 
 Nhiều dịch vụ và truy nhập ứng dụng thông qua các nhà cung cấp dịch 
vụ và truy nhập ứng dụng sẽ phát triển mạnh. Các dịch vụ leased line, 
ATM, Frame Relay hiện nay sẽ tiếp tục tồn tại thêm một thời gian nữa 
do các tổ chức kinh doanh không muốn thay đổi thiết bị chỉ vì thay đổi 
dịch vụ kết nối. Dịch vụ IP-VPN sẽ trở thành một lựa chọn hấp dẫn. 
 Cuối cùng, phương thức truy nhập mạng, ra lệnh, nhận thông tin, bằng 
lời nói (voice portal) sẽ là một chọn lựa trong tương lai. Hiện nay, kỹ 
thuật chuyển đổi từ lời nói sang file văn bản và ngược lại đang phát 
triển mạnh. 
 2. Các đặc trưng của dịch vụ NGN 
Mặc dù thật khó để dự đoán hết các ứng dụng trong tương lai, nhưng 
chúng ta có thể chỉ ra các đặc trưng và các khả năng quan trọng của dịch 
vụ trong môi trường NGN bằng cách xem xét các xu hướng công nghiệp 
liên quan đến dịch vụ hiện nay. Một điều chắc chắn là chúng ta đang dịch 
chuyển từ mạng chuyển mạch kênh, trên nền TDM sang mạng dựa trên 
chuyển mạch gói, dựa trên truyền tải tế bào hay khung. Tuy nhiên các thay 
đổi này là trong mạng truyền tải và ở đây chúng ta chỉ xem xét ở mức dịch 
vụ. 
Các nhà cung cấp dịch vụ mạng truyền thống đã cung cấp các dịch vụ 
với khuynh hướng thoại băng hẹp, bằng một kết nối đơn điểm-điểm trong 
mỗi cuộc gọi trên một thị trường rộng lớn giữa các thuê bao đầu cuối, với 
các khả năng sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng khác nhau. Dù sao, các 
dịch vụ này đã làm thay đổi nhanh chóng đến nền kinh tế thế giới và thông 
tin cũng được xem như một nguồn tài nguyên cơ sở. 
Trong khi các dịch vụ hiện tại vẫn được các nhà cung cấp giữ lại, thì 
khách hàng lại sẽ hướng đến các dịch vụ đa phương tiện băng rộng và các 
dịch vụ mang nhiều thông tin. Khách hàng có thể tương tác với nhau thông 
qua mạng nhờ các thiết bị CPE tinh vi và có thể chọn trên phạm vi rộng 
chất lượng dịch vụ (QoS) và dải tần. Trong tương lai, mạng thông minh sẽ 
không chỉ tạo ra các tuyến kết nối bằng cách dựa trên cơ sở dữ liệu đơn 
giản mà còn có thể mang nhiều thông tin rộng hơn như: quản lý session đa 
phương tiện, các kết nối đa công nghệ, điều khiển/quản lý thông minh, bảo 
mật cao, các dịch vụ chỉ dẫn trực tuyến, các phần tử giám sát, 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 122 - 
Sự phát triển của các dịch vụ truyền thông hiện nay sẽ hướng tới việc 
các nhà cung cấp dịch vụ phải có sự mềm dẻo, linh hoạt để phục vụ được 
cả thị trường lớn và nhỏ. Các quyết định về việc cung cấp dịch vụ của họ 
có thể gặp nhiều vấn đề phải giải quyết như giá cả, việc đóng gói, tiếp thị 
cũng như sự tiện ích của dịch vụ thực tế khi cung cấp. Khi có nhiều phương 
tiện truyền tin, nhà cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp thiết bị và các doanh 
nghiệp thương mại liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, liên mạng và các 
hệ thống thương mại sẽ trở nên càng quan trọng. 
Mục tiêu chính của dịch vụ NGN là cho phép khách hàng có thể lấy 
thông tin họ muốn ở bất kỳ dạng nào, trong bất kỳ điều kiện nào, tại mọi 
nơi và dung lượng tùy ý. Dựa trên các khuynh hướng được đề cập ở trên, 
sau đây là một số đặc tính dịch vụ quan trọng trong môi trường NGN: 
ƒ Liên lạc thông tin rộng khắp, thời gian thực, đa phương tiện, đảm bảo 
độ tin cậy, thân thiện trong việc liên kết các thuê bao, truy nhập tốc độ 
cao và truyền tải thông tin với bất kỳ phương tiện nào, vào mọi lúc, tại 
mọi nơi, 
ƒ Nhiều thực thể và các phần tử mạng thông minh được phân bố trên toàn 
mạng. Nó bao gồm các ứng dụng cho phép truy nhập và điều khiển các 
dịch vụ mạng. Nó cũng có thể thực hiện các chức năng cụ thể thay thế 
cho nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng. Ta có thể xem nó như một tác tử 
quản lý có thể thực hiện giám sát tài nguyên mạng, tập hợp các số 
liệu, 
ƒ Dễ dàng sử dụng. Khách hàng không bị ảnh hưởng từ các quá trình tập 
trung, xử lý và truyền dẫn thông tin phức tạp của hệ thống. Nó cho 
phép khách hàng truy xuất và sử dụng các dịch vụ mạng một cách đơn 
giản hơn, bao gồm các giao diện người dùng cho phép tương tác tự 
nhiên giữa khách hàng và mạng. Khách hàng được cung cấp các thông 
tin hướng dẫn, các tùy chọn, các tương tác quản lý xuyên suốt các dịch 
vụ. Ngoài ra nó còn cung cấp các menu khác nhau cho những người 
chưa có kinh nghiệm ngược lại với những người đã có kinh nghiệm, và 
cung cấp một môi trường thống nhất cho các dạng thông tin. 
ƒ NGN cho phép khách hàng quản lý hồ sơ các nhân, tự dự phòng các 
dịch vụ mạng, giám sát thông tin tính cước, cá nhân hóa giao diện người 
dùng, tạo ra và dự phòng các ứng  ...  phiên, và các dịch vụ giá trị gia tăng khác. 
NGN có khả năng cung cấp phạm vi rộng các loại hình dịch vụ, bao gồm: 
- Các dịch vụ tài nguyên chuyển dụng như: cung cấp và quản lý các bộ 
chuyển mã, các cầu nối hội nghị đa phương tiện đa điểm, các thư viện 
nhận dạng tiếng nói, 
- Các dịch vụ lưu trữ và xử lý như: cung cấp và quản lý các đơn vị lưu trữ 
thông tin về thông báo, file servers, terminal servers, nền tảng hệ điều 
hành (OS platforms), 
- Các dịch vụ trung gian như: môi giới, bảo mật, bản quyền, 
- Các dịch vụ ứng dụng cụ thể như: các ứng dụng thương mại, các ứng 
dụng thương mại điện tử, 
- Các dịch vụ cung cấp nội dung mà nó có thể cung cấp hoặc môi giới nội 
dung thông tin như: đào tạo, các dịch vụ xúc tiến thông tin,.. 
- Các dịch vụ interworking dùng để tương tác với các dịch vụ khác, các 
ứng dụng khác, các mạng khác, các giao thức hoặc các định dạng khác 
như chuyển đổi EDI (Electronic Data Interchange). 
- Các dịch vụ quản lý, bảo dưỡng, vận hành và quản lý các dịch vụ và 
mạng truyền thông. 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 124 - 
Sau đây là một số dịch vụ mà chúng ta tin rằng nó sẽ chiếm vị trí 
quan trọng trong môi trường NGN, bao gồm một phạm vi rộng các dịch vụ 
từ thoại thông thường đến các dịch vụ tích hợp phức tạp như Thực tế ảo 
phân tán (Distributed Virtual Reality) nhằm nhấn mạnh rằng kiến trúc dịch 
vụ thế hệ sau sẽ cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. 
Dịch vụ
thoại
Dịch vụ
dữ liệu
Dịch vụ đa
phương tiện
Mạng
riêng ảo
Tính toán
mạng công
cộng
Bản tin
hợp nhất
Môi giới
thông tin
Thương mại
điện tử
Dịch vụ
chuyển cuộc
gọi
Trò chơi
tương tác
Thực tế ảo
phân tán
Quản lý
tại gia
Hình 5-3 Một số dịch vụ NGN điển hình 
3.1 Dịch vụ thoại (Voice Telephony) 
NGN vẫn cung cấp các dịch vụ thoại khác nhau đang tồn tại 
như chờ cuộc gọi, chuyển cuộc gọi, gọi ba bên, các thuộc tính AIN 
khác nhau, Centrex, Class, Tuy nhiên cần lưu ý là NGN không cố 
gắng lặp lại các dịch vụ thoại truyền thống hiện đang cung cấp; 
dịch vụ thì vẫn đảm bảo nhưng công nghệ thì thay đổi. 
3.2 Dịch vụ dữ liệu ( Data Service) 
Cho phép thiết lập kết nối thời gian thực giữa các đầu cuối, 
cùng với các đặc tả giá trị gia tăng như băng thông theo yêu cầu, 
tính tin cậy và phục hồi nhanh kết nối, các kết nối chuyển mạch ảo 
(SVC- Switched Virtual Connection), và quản lý dải tần, điều 
khiển cuộc gọi, Tóm lại các dịch vụ dữ liệu có khả năng thiết lập 
kết nối theo băng thông và chất lượng dịch vụ QoS theo yêu cầu. 
3.3 Dịch vụ đa phương tiện (Multimedia Service) 
Cho phép nhiều người tham gia tương tác với nhau qua thoại, 
video, dữ liệu. Các dịch vụ này cho phép khách hàng vừa nói 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 125 - 
chuyện, vừa hiển thị thông tin. Ngoài ra, các máy tính còn có thể 
cộng tác với nhau. 
3.4 Dịch vụ sử dụng mạng riêng ảo (VPN) 
Thoại qua mạng riêng ảo cải thiện khả năng mạng, cho phép 
các tổ chức phân tán về mặt địa lý, mở rộng hơn và có thể phối 
hợp các mạng riêng đang tồn tại với các phần tử của mạng PSTN. 
Dữ liệu VPN cung cấp thêm khả năng bảo mật và các thuộc 
tính khác mạng của mạng cho phép khách hàng chia sẻ mạng 
Internet như một mạng riêng ảo, hay nói cách khác, sử dụng địa 
chỉ IP chia sẻ như một VPN. 
Hình 5-4 Dịch vụ VPN tiên tiến cho SOHO 
3.5 Tính toán mạng công cộng (PNC- Public Network Computing) 
Cung cấp các dịch vụ tính toán dựa trên cơ sở mạng công cộng 
cho thương mại và các khách hàng. Ví dụ nhà cung cấp mạng công 
cộng có thể cung cấp khả năng lưu trữ và xử lý riêng ( chẳng hạn 
như làm chủ một trang web, lưu trữ/ bảo vệ/ dự phòng các file số 
liệu hay chạy một ứng dụng tính toán). Như một sự lựa chọn, các 
nhà cung cấp dịch vụ mạng công cộng có thể chung cấp các dịch 
vụ thương mại cụ thể (như hoạch định tài nguyên công ty (ERP- 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 126 - 
Enterprise Resource Planning), dự báo thời gian, hóa đơn chứng 
thực,) với tất cả hoặc một phần các lưu trữ và xử lý xảy ra trên 
mạng. Nhà cung cấp dịch vụ có thể tính cước theo giờ, ngày, 
tuần, hay theo phí bản quyền đối với dịch vụ. 
3.6 Bản tin hợp nhất (Unified Messaging) 
Hỗ trợ cung cấp các dịch vụ voice mail, email, fax mail, pages 
qua các giao diện chung. Thông qua các giao diện này, người sử 
dụng sẽ truy nhập (cũng như được thông báo) tất cả các loại tin 
nhắn trên, không phụ thuộc vào hình thức truy nhập (hữu tuyến 
hay vô tuyến, máy tính, thiết bị dữ liệu vô tuyến). Đặc biệt kỹ 
thuật chuyển đổi lời nói sang file văn bản và ngược lại được thực 
hiện ở server ứng dụng cần phải được sử dụng ở dịch vụ này. 
3.7 Môi giới thông tin ( Information Brokering) 
Bao gồm quảng cáo, tìm kiếm và cung cấp thông tin đến khách 
hàng tương ứng với nhà cung cấp. Ví dụ như khách hàng có thể 
nhận thong tin trên cơ sở các tiêu chuẩn cụ thể hay trên các cơ sở 
tham chiếu cá nhân, 
3.8 Thương mại điện tử (E-commerce) 
Cho phép khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ được xử lý bằng 
điện tử trên mạng; có thể bao gồm cả việc xử lý tiến trình, kiểm 
tra thông tin thanh toán tiền, cung cấp khả năng bảo mật, Ngân 
hàng tại nhà và đi chợ tại nhà nằm trong danh mục các dịch vụ 
này; bao gồm cả các ứng dụng thương mại, ví dụ như quản lý dây 
chuyển cung cấp và các ứng dụng quản lý tri thức. 
Dịch vụ thương mại điện tử còn được mở rộng sang lĩnh vực di 
động. Đó chính là dịch vụ thương mại điện tử di động (m-
commerce – Mobile Commerce). Có nhiều khái niệm khác nhau 
về m-commerce, nhưng ta có thể hiểu đây là dịch vụ cho phép 
người sử dụng tham gia vào thị trường thương mại điện tử (mua và 
bán) qua các thiết bị di động cầm tay. 
3.9 Các dịch vụ chuyển cuộc gọi (Call Center Service) 
Một thuê bao có thể chuyển một cuộc gọi thông thường đến 
trung tâm phân phối cuộc gọi bằng cách kích chuột trên một trang 
web. Cuộc gọi có thể xác định đường đến một agent thích hợp, mà 
nó có thể nằm bất cứ đâu thậm chí cả ở nhà (như trung tâm cuộc 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 127 - 
gọi ảo – Vitual Call Center). Các cuộc gọi thoại cũng như các tin 
nhắn e-mail có thể được xếp hàng giống nhau đến các agent. Các 
agent có các truy nhập điện tử đến các khách hàng, danh mục, 
nguồn cung cấp và thông tin yêu cầu, có thể được truyền qua lại 
giữa khách hàng và agent. 
3.10 Trò chơi tương tác trên mạng (Interactive Gaming) 
Cung cấp cho khách hàng một phương thức gặp nhau trực tuyến 
và tạo ra các trò chơi tương tác (chẳng hạn như video games) 
3.11 Thực tế ảo phân tán (Distributed Virtual Reality) 
Tham chiều đến sự thay đổi được tạo ra có tính chất kỹ thuật 
của các sự kiện, con người, địa điểm, kinh nghiệm, của thế giới 
thực, ở đó những người tham dự và các nhà cung cấp kinh nghiệm 
ảo là phân tán về địa lý. Các dịch vụ này là yêu cầu sự phối hợp 
rất phức tạp của các tài nguyên khác nhau. 
3.12 Quản lý tại nhà (Home Manager) 
Với sự ra đời của cá thiết bị mạng thông minh, các dịch vụ này 
có thể giám sát và điều khiển các hệ thống bảo vệ tại nhà, các hệ 
thống đang hoạt động, các hệ thống giải trí, và các công cụ khác 
tại nhà. Giả sử như chúng ta đang xem ti vi và có chuông cửa, 
không vấn đề gì cả, ta chỉ việc sử dụng điều khiển ti vi từ xa để 
xem được trên màn hình ai đang đứng trước cửa nhà mình. Hoặc 
chẳng hạn như chúng ta có thể quan sát được ngôi nhà của mình 
trong khi đang đi xa, hoặc quan sát được người trông trẻ đang 
chăm sóc em bé như thế nào khi ta đang làm việc tại cơ quan. 
Ngoài các dịch vụ đã nêu trên còn có rất nhiều dịch vụ khác có thể 
triển khai trong môi trường NGN như: các dịch vụ ứng dụng trong y học, 
chính phủ điện tử, nghiên cứu nào tạo từ xa, nhắn tin đa phương tiện, Như 
vậy các dịch vụ thế hệ sau là rất đa dạng và phong phú, việc xây dựng, 
phát triển và triển khai chúng là mở và linh hoạt. Chính vì vậy nó thuận 
tiện cho các nhà cung cấp dịch vụ và ứng dụng triển khai dịch vụ đến cho 
khách hàng trong môi trường NGN. 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 128 - 
V. KIẾN TRÚC DỊCH VỤ THẾ HỆ SAU 
Hình 5-5 Cấu trúc mạng đa dịch vụ (từ góc độ mạng) 
Sự hiểu biết cấu trúc dịch vụ mạng thế hệ mới sẽ giúp làm sáng tỏ các 
yêu cầu đối với mỗi phát hành về công nghệ NGN. 
Xét trên lớp ứng dụng dịch vụ, có hai thành phần chức năng được thêm 
vào cấu trúc mạng thế hệ sau: chức năng server ứng dụng và chức năng media 
server. 
Hình 5-6 Cấu trúc chức năng lớp ứng dụng 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 129 - 
 Chức năng của Server ứng dụng 
ƒ Cung cấp một flatform phân phối dịch vụ đối với các dịch vụ tiên tiến 
ƒ SIP là giao thức được sử dụng giữa các bộ điều khiển cuộc gọi (MGC) và 
các server ứng dụng. 
ƒ Có thể cung cấp các giao diện mở APIs cho việc tạo và triển khai các 
dịch vụ (như giao diện JAIN, Parlay,CLP,) 
Hình 5-7 Các API đặt bên cạnh server ứng dụng 
ƒ Là nền tảng cho việc thực thi và quản lý các dịch vụ. 
ƒ Triển khai các dịch vụ nhanh chóng và nâng cấp các dịch vụ hiện có. 
 Chức năng của Media Server 
ƒ Cung cấp các tài nguyên phương tiện đặc trưng như IVR, hội thảo, fax, 
ƒ Các tài nguyên này thường là thu âm thanh, phát hiện nhấn phím, hội 
thảo, chuyển văn bản thành thoại, facsimile, nhận dạng tiếng nói,.. 
ƒ Giao tiếp với server ứng dụng bằng giao thức MGCP và/hoặc SIP 
ƒ Kết cuối một dòng RTP, đóng vai trò như một đầu cuối media. 
Cấu trúc chức năng này có thể được đặt theo nhiều kiểu cấu trúc vật lý 
khác nhau, như các hình sau: 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 130 - 
Hình 5-8 Mô hình cấu trúc vật lý 1 
Hình 5-9 Mô hình cấu trúc vật lý 2 
Phần này miêu tả ba đặc trưng quan trọng nhất của môi trường điều 
khiển thế hệ mới: 
 1. Kiến trúc phân lớp 
Khái niệm cấu trúc phân lớp là khái niệm trung tâm của môi trường 
NGN. NGN chia điều khiển dịch vụ/ session từ các phương thức truyền tải 
cơ sở. Điều này cho phép các nhà cung cấp lựa chọn (cho từng trường hợp 
cụ thể) các phương thức truyền tải thông tin không phụ thuộc vào phần 
mềm điều khiển. Như mô tả trong hình sau, điều khiển NGN có thể được 
phân tách thành điều khiển đặc tính (feature), điều khiển dịch vụ/ phiên, 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 131 - 
điều khiển kết nối. Sự phân tách giữa truy nhập, dịch vụ và điều khiển 
phiên trong lớp dịch vụ cho phép mỗi phiên được xử lý độc lập với các 
phiên khác. Do đó, nhiều phiên dịch vụ có thể được bắt đầu từ một phiên 
truy nhập. Tương tự, các phiên liên lạc có thể được xử lý riêng lẻ với phiên 
dịch vụ nói chung mà chúng là bộ phận (bằng cách đó cho phép cho phép 
điều khiển cuộc gọi và kết nối một cách riêng lẻ). Điều quan trọng nhất là 
các sự phân tách này cho phép các dịch vụ được phát triển độc lập với 
truyền dẫn và kết nối. Do vậy, các nhà phát triển dịch vụ có thể không cần 
hiểu hết các dịch vụ họ đang phát triển. 
Hình 5-10 Cấu trúc điều khiển phân lớp 
 2. Giao diện các dịch vụ mở API 
Hình trên cũng chỉ ra một số đặc tính quan trọng của kiến trúc dịch vụ 
thế hệ sau, như tính tin cậy của nó trên các giao diện và cấu trúc mở. Đặc 
biệt, môi trường phát triển mở dựa trên giao diện lập trình ứng dụng (API) 
sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ, các nhà phát triển ứng dụng và các 
khách hàng tiềm năng tạo và giới thiệu các ứng dụng một cách nhanh 
chóng. Nó cũng mở ra nhiều cơ hội để tạo ra và phân phối các dịch vụ cho 
nhiều khách hàng hơn. Như vậy, khả năng cung cấp các dịch vụ mới và 
sáng tạo sẽ chỉ bị giới hạn bởi chính sự sáng tạo của chúng ta mà thôi. 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 132 - 
Lớp đặc trưng
Lớp dịch vụ
Lớp kết nối
Li
ên
 k
ết
 m
ạn
g
Điều khiển
tính năng
Truy nhập, dịch
vụ và điều khiển
phiên thông tin
Điều khiển
kết nối
Giao diện
ứng dụng
Giao diện chung
Xử lý chung
Các giao thức
chuẩn:
* TCAP
* ISUP
* SGCP/MGCP
* Q.901
* UNI4.0
* GSM
* H.323
* SIP
* DMS-CC
 ...
Hình 5-11 Kiến trúc phân lớp/ Giao diện dịch vụ mở 
 3. Mạng thông minh phân tán 
Trong môi trường các dịch vụ NGN, phạm vi thị trường của các dịch 
vụ có thể sử dụng được mở rộng một cách lớn mạnh gồm các loại hình dịch 
vụ khác nhau và mạng liên kết thông minh. Môi trường xử lý phân tán 
NGN (DPE – Distributed Processing Environment) sẽ giải phóng tính thông 
minh từ các phần tử vật lý trên mạng. Do vậy, tính thông minh của mạng 
có thể được phân tán đến các vị trí thích hợp trong mạng hoặc nếu có thể, 
đến CPE. Ví dụ, khả năng thông minh của mạng có thể nằm ở các server 
cho một dịch vụ nào đó, trên các server nay thực hiện các chức năng cụ thể 
( ví dụ như các điểm điều khiển dịch vụ SCP, các node dịch vụ trong một 
môi trường AIN), hoặc trên các thiết bị đầu cuối gần khách hàng. Các khả 
năng thực hiện sẽ không bị ràng buộc trong các thành phần vật lý của 
mạng. 
BÀI GIẢNG NGN Chương 5: Dịch vụ trong NGN 
 - 133 - 
Hình 5-12 NGN với các nút truy nhập phân tán 
VI. KẾT LUẬN 
Nhìn từ góc độ người sử dụng, mạng ngày nay đã và đang trở thành 
phương tiện cho phép con người và máy móc có thể kết nối với nhau ở bất kỳ 
khoảng cách nào. Tuy nhiên, nhân tố quan trọng được tập trung nhiều là nền 
công nghiệp truyền thông dựa trên khái niệm dịch vụ NGN được thực hiện 
trong môi trường NGN như thế nào từ các góc độ mạng khác nhau. 

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_mang_ngn_chuong_5_dich_vu_trong_mang_ngn.pdf