Một đề xuất sử dụng lưới 3D khép kín để giấu tin

Tóm tắt

Kỹ thuật giấu tin trong đối tượng lưới 3D được đưa ra trong [4], [5] là phương pháp giấu

tin trên các đỉnh của một tập các tam giác Theo chuỗi bit khóa sinh ra trong quá trình giấu.

Các phương pháp này, trong một số trường hợp, nếu gặp phải lưới hở thì không thực hiện

được. Bài báo trình bày phương pháp xác định lưới 3D khép kín, từ đó đề xuất áp dụng các

phương pháp giấu tin trong [4], [5] trên kiểu lưới kín đề xuất. Với kỹ thuật này, người nhận

chỉ cần biết quy tắc của chuỗi khóa bí mật là có thể giải mã thông tin, sẽ làm tăng tính bảo

mật cho các kỹ thuật giấu tin. Thực nghiệm với phương pháp MEP [4] trên các lưới 3D kín

cho thấy kỹ thuật này đáp ứng được các yêu cầu giấu tin, có tính bảo mật cao và không cần

gửi theo chuỗi bít khóa

pdf 10 trang yennguyen 340
Bạn đang xem tài liệu "Một đề xuất sử dụng lưới 3D khép kín để giấu tin", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một đề xuất sử dụng lưới 3D khép kín để giấu tin

Một đề xuất sử dụng lưới 3D khép kín để giấu tin
197 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 6, Số 2, 2016 197–206 
MỘT ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG LƯỚI 3D KHÉP KÍN ĐỂ GIẤU TIN 
Thái Duy Quýa* 
aKhoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam 
Nhận ngày 04 tháng 01 năm 2016 
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 03 năm 2016 | Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 03 năm 2016 
Tóm tắt 
Kỹ thuật giấu tin trong đối tượng lưới 3D được đưa ra trong [4], [5] là phương pháp giấu 
tin trên các đỉnh của một tập các tam giác Theo chuỗi bit khóa sinh ra trong quá trình giấu. 
Các phương pháp này, trong một số trường hợp, nếu gặp phải lưới hở thì không thực hiện 
được. Bài báo trình bày phương pháp xác định lưới 3D khép kín, từ đó đề xuất áp dụng các 
phương pháp giấu tin trong [4], [5] trên kiểu lưới kín đề xuất. Với kỹ thuật này, người nhận 
chỉ cần biết quy tắc của chuỗi khóa bí mật là có thể giải mã thông tin, sẽ làm tăng tính bảo 
mật cho các kỹ thuật giấu tin. Thực nghiệm với phương pháp MEP [4] trên các lưới 3D kín 
cho thấy kỹ thuật này đáp ứng được các yêu cầu giấu tin, có tính bảo mật cao và không cần 
gửi theo chuỗi bít khóa. 
Từ khóa: Giấu tin; Giấu tin mật; Lưới 3D kín; VRML. 
1. GIỚI THIỆU 
Giấu tin (data hidding) là kỹ thuật giấu một lượng thông tin dưới dạng một 
chuỗi bít vào một đối tượng (gọi là đối tượng chứa - cover) để trở thành đối tượng khác 
(đối tượng mang - stego). Kỹ thuật này được ứng dụng trong bảo mật dữ liệu và bảo vệ 
bản quyền tác phẩm. Ưu điểm chính của kỹ thuật này là cả người gửi lẫn người nhận 
đều khó nhận biết được thông tin đã giấu trong đối tượng [1]. Có nhiều môi trường đa 
phương tiện được dùng cho giấu tin như ảnh, âm thanh, video, văn bản. 
 Hình 1 minh họa quá trình giấu tin cơ bản. Quá trình giấu tin được chia thành 
hai khối có cấu trúc giống nhau: quá trình nhúng và quá trình giải mã. Quá trình nhúng 
nhận vào đối tượng chứa, dữ liệu cần nhúng, sau khi thực hiện nhúng thông tin, kết quả 
sẽ cho ra đối tượng mang và chuỗi bít khóa bí mật, đối tượng mang và khóa bí mật sẽ 
* Tác giả liên hệ: Email: quytd@dlu.edu.vn 
 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 198 
được chuyển cho người nhận. Quá trình giải mã sử dụng đối tượng mang, quy tắc khóa 
bí mật để cho ra dữ liệu đã được giấu. 
Hình 1. Quá trình nhúng và giải mã thông tin 
2. BIỂU DIỄN LƯỚI TAM GIÁC 
Trong thập niên gần đây, các kỹ thuật mô hình hóa đối tượng trong không gian 
ba chiều (3D) được phát triển mạnh và có ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đồ họa, mô 
phỏng, thiết kế.... Có nhiều phương pháp biểu diễn các đối tượng 3D như khối cầu, hình 
chóp, hình lập phương Để biểu diễn các đối tượng phức tạp, người ta thường dùng 
mô hình đối tượng lưới. Trong các loại mô hình lưới, thì lưới tam giác được sử dụng 
nhiều nhất. Lưới tam giác được xây dựng từ nhiều mặt tam giác, các tam giác này biểu 
diễn tọa độ các đỉnh và các màu sắc nếu có. Định nghĩa 1 cho thấy một cách biểu diễn 
lưới tam giác. 
Định nghĩa 1. Cho tập đỉnh V = [V1, V2  Vn], với mỗi đỉnh là bộ ba các giá trị 
tọa độ x, y, z trong không gian, n là tổng số đỉnh. Một biểu diễn lưới tam giác trong 
không gian ba chiều là một tập cấu trúc lưu trữ thông tin về kết nối giữa các đỉnh: 
I = {I1; I2; ;Ik} (1) 
Với 1 ≤ k ≤ n. Ii (với 1≤ i ≤ k) là bộ 3 các chỉ số (u, v, t) với 1 ≤ u < v < t ≤ n. 
Ví dụ 1: Cho tập V = [V1, V2, V3, V4]. 
- Hình chóp C có thể được biểu diễn dưới dạng lưới (Hình 2a): 
IC = {(1,2,3);(1,2,4);(1,3,4);(2,3,4)} 
- Hình 2b biểu diễn một lưới tam giác IM = {(1,3,4);(2,3,4)} 
199 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 
(a) 
(b) 
Hình 2. Mô hình biểu diễn lưới 
Các nghiên cứu trong [3] cho thấy đây cũng là một môi trường giấu tin tốt, đảm 
bảo lượng thông tin giấu nhiều và vô hình với người gửi lẫn người nhận. 
Phương pháp giấu tin mật trong lưới 3D được nghiên cứu bởi các tác giả tại [3, 
4, 5]. Trong [4], các tác giả đã đưa ra phương pháp giấu tin mật dựa trên việc biểu diễn 
một tam giác thành hai trạng thái là 0 và 1, và giấu tin bằng cách dịch chuyển đỉnh. 
Phương pháp trong [4] có thể giấu được 3 bít trên mỗi tam giác. Các tác giả [5] đã mở 
rộng phương pháp trong [4] bằng phương pháp nhúng đa cấp (multilevel embedding) 
trên mỗi tam giác và đã giấu được số lượng bit gần gấp ba lần. 
Bài báo này trình bày một đề xuất về kỹ thuật giấu tin mật trên đối tượng lưới 
tam giác khép kín trong lưới tam giác 3D được đưa ra trong [4]. Ý tưởng trong [4] là 
thực hiện nhúng các bít dựa trên sự dịch chuyển của các tọa độ đỉnh của lưới 3D. Không 
như kỹ thuật trong [4], đề xuất này coi chuỗi bít khóa dùng để duyệt qua các tam giác là 
một quy tắc cho trước, khi đó chuỗi bít khóa không cần gửi qua cho người nhận là chuỗi 
bít dịch chuyển. Kỹ thuật này có thể nhúng được 3 bít trong mỗi tam giác và có thể tiếp 
tục nhúng bít trên các tam giác đã nhúng trước đó. 
3. KỸ THUẬT GIẤU TIN TRONG LƯỚI 3D 
Kỹ thuật giấu tin này được đề xuất trong [4], được gọi là phương pháp MEP, là 
kỹ thuật giấu tin trên tam giác, thực hiện như trong các phần 3.1 và 3.2. 
3.1. Xây dựng danh sách tam giác 
Từ một đối tượng lưới tam giác 3D, chọn một tam giác ban đầu và một cạnh ban 
đầu trong tam giác đó. Trong mỗi một tam giác, định nghĩa một cạnh vào là cạnh dùng 
để đi vào tam giác và hai cạnh kết thúc để đi ra tới định tam giác kế tiếp (Hình 3a). Giả 
 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 200 
sử từ tam giác ban đầu ABC với AB là cạnh vào, AC và BC lần lượt là hai cạnh ra của 
tam giác, tam giác kế tiếp được tìm ra theo theo quy tắc bit khóa như sau: 
 Nếu giá trị bít khóa là “1”, tam giác kế tiếp là tam giác kề cạnh BC. 
 Ngược lại, nếu giá trị bít là “0” sẽ là tam giác kề cạnh AC. 
Hình 3. Phương pháp xác định tam giác kế tiếp dựa trên ký tự nhị phân 
Như vậy cạnh kết thúc của tam giác này là cạnh vào của tam giác kế tiếp. Hình 
3b cho thấy một danh sách các tam giác khi được duyệt tương ứng với chuỗi bit khóa 
được phát sinh. Độ dài của chuỗi bít khóa bằng độ dài của danh sách các tam giác dùng 
để lưu các bít. Giả sử cần giấu M bít, nếu mỗi đỉnh giấu một bít, số bít khóa sẽ là nk = 
M/3. 
3.2. Giấu tin trong tam giác 
Xét tam giác ABC, ký hiệu P(C)|AB là hình chiếu của đỉnh C lên cạnh AB. 
Khoảng cách AB được chia thành hai tập con là M0 và M1 biểu diễn các bít luân phiên 
“0”, “1” (M0 là tập biểu thị cho bít “0”, M1 biểu thị cho bít “1) (Hình 4). 
B
0 1 0 0 111 0
M0 M1 M0 M1 M0 M1 M0 M1 m = 8
A
Hình 4. Minh họa chia |AB| thành hai tập M0 và M1 với m = 8 
Để nhúng bít thứ i (i = 0 hoặc 1) vào đỉnh C, xét hai trường hợp: 
 Nếu P(C)|AB = Mi: Không cần thực hiện sự thay đổi nào cả. 
 Nếu P(C)|AB ≠ Mi: Đỉnh C dịch chuyển qua C’ sao cho P(C’)|AB = Mi. 
201 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 
Quá trình được minh họa trong Hình 5. 
Hình 5. Quá trình dịch chuyển đỉnh C thành C’. 
Đỉnh C’ có thể được lấy đối xứng với đỉnh C qua trục đối xứng là biên của miền 
giá trị M0 và M1 nằm ở gần nhất. Giá trị  được gọi là khoảng phân đoạn, và được tính 
bằng: mAB /||  với m là tổng số tập con Mi (i = 0 hoặc 1). Tọa độ vị trí mới C’ được 
tính bằng (1). 
C' C 2 2 2
λx =x +a
a +b +c
, C' C 2 2 2
λy =y +b
a +b +c
, C' C 2 2 2
λz =z +c
a +b +c (2)
Trong đó a, b, c là tọa độ của vector chỉ phương AB,  là giá trị khoảng phân 
đoạn. Giá trị  phải đủ lớn để làm thay đổi trạng thái của tam giác từ “0” qua “1” hoặc 
từ “1” qua “0” và cũng phải đủ nhỏ để sau khi dịch chuyển không làm biến đổi nhiều 
hình dạng ban đầu. 
3.3. Kỹ thuật giải mã thông tin 
Kỹ thuật giải mã thông tin cũng thực hiện duyệt danh sách các tam giác giấu tin 
khi biết chuỗi bit khóa bí mật. Tuy nhiên trong bước giải mã sẽ thực hiện các thao tác 
ngược lại so với kỹ thuật giấu tin. 
3.4 Nhận xét 
Phương pháp trong [4] (thậm chí trong [5]) gặp phải các vấn đề như sau: 
Vấn đề 01: Khi duyệt qua các đỉnh dựa trên chuỗi khóa, nếu gặp trường hợp tới 
một tam giác chỉ có một tam giác kề trong khi đó bit khóa không thuộc tam giác đó 
 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 202 
(Hình 6a) hoặc không có tam giác kề nào (Hình 6b) thì không thể phát sinh bit khóa tiếp 
theo, lúc này chương trình sẽ bị ngưng và không giấu được thông tin. 
(a) 
(b) 
Hình 6. Minh họa quá trình duyệt tam giác phát sinh bit khóa 
Vấn đề 02: Việc chuyển thông tin cho người nhận, ngoài đối tượng mang, còn 
phải kèm theo chuỗi bit khóa, điều này gây khó khăn trong quá trình bảo mật. 
3.5 Hướng đề xuất 
 Sử dụng lưới tam giác khép kín để giấu thông tin, với vấn đề 01 lưới tam giác 
kín sẽ luôn có ba tam giác kề tam giác cho trước, việc duyệt các tam giác giấu tin sẽ 
diễn ra thuận tiện mà không bị ngưng. Trong vấn đề 02, có thể sử dụng một quy tắc 
khóa bí mật cho trước, thống nhất giữa chương trình giấu tin và giải mã, khóa sẽ được 
phát sinh theo quy tắc đó. 
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào xác định được lưới nào kín, lưới nào không 
kín để giấu thông tin, mục tiếp theo sẽ đưa ra hướng giải quyết dựa trên một định nghĩa 
về lưới kín và một định lý dùng để xác định lưới kín. 
4. LƯỚI 3D KHÉP KÍN 
Lưới 3D khép kín thực chất là mô hình lưới 3D không có lỗ thủng trên bề mặt. 
Về mặt biểu diễn thì một lưới kín phải biểu diễn thông số của tất cả các đỉnh. 
Định nghĩa 2. Cho tập đỉnh V, một lưới tam giác 3D khép kín là một tập cấu 
trúc lưu trữ thông tin kết nối giữa các đỉnh sao cho với mọi tam giác ta luôn tìm được 3 
tam giác kề tương ứng với 3 cạnh của tam giác đó. 
203 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 
Ví dụ 2: Trong Ví dụ 1 hình chóp IC = {(1,2,3);(1,2,4);(1,3,4);(2,3,4)} là một 
lưới khép kín vì dựa vào cấu trúc lưu trữ cho thấy bất kỳ tam giác nào cũng luôn có 3 
tam giác kề với 3 cạnh. 
Định lý: Cho tập V và bộ biểu diễn lưới I. Với mọi cặp (u,v) Ii với 1 ≤ i ≤ k (k 
là số mặt tam giác của lưới), nếu luôn tìm được số tự nhiên t ≠ u,v sao cho bộ (u,v,t) 
I\{Ii} thì cấu trúc lưu trữ lưới là khép kín. 
Chứng minh: 
Nếu có cặp (u,v) nhưng không tìm được t để tạo thành bộ (u,v,t) I , lúc này u,v 
là 2 chỉ số đỉnh tương ứng của Vu, Vv. Như vậy không tồn tại đỉnh Vt để tạo thành tam 
giác VuVvVt. Như vậy cạnh VuVv không có tam giác liền kề với nó, theo định nghĩa 2.2 
lưới (V,I) không là lưới khép kín. 
Từ định lý trên, ta có thuật toán kiểm tra lưới kín như sau. 
Input: Lưới tam giác (V,I) 
Output: Lưới kín hay không. 
Thuật toán 1: 
Bước 1: khởi tạo i =1; 
Bước 2: Với  Ii, lấy bộ (u,v) Ii. Nếu t (1 ≤ t ≤ n; t ≠ u, t ≠ v) sao cho (u,v,t) 
= Ij  i ≠ j thì lưới là khép kín. Ngược lại: Lưới không khép kín. 
Ứng dụng: Các lưới 3D khép kín biểu diễn các tam giác liền nhau, và vì vậy khi 
duyệt các tam giác để xác định các tam giác giấu tin ta có thể duyệt liên tục mà không bị 
ngừng lại. 
5. GIẤU TIN TRÊN LƯỚI 3D KHÉP KÍN 
Dựa trên các định nghĩa và định lý ở mục 4, có thể áp dụng phương pháp giấu 
tin trên lưới 3D khép kín với các bước như sau: 
 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 204 
Bước 1: Kiểm tra lưới kín hay hở bằng Thuật toán 1 
Bước 2: Nếu lưới kín thì giấu tin theo phương pháp [4] đã trình bày ở mục 3. 
Bước giải mã thông tin: có thể thực hiện ngược lại các bước như giấu tin với quy 
tắc khóa cho trước. 
Mô hình giấu tin và giải mã thông tin có thể thực hiện như trong Hình 7. Lúc 
này chuỗi bit khóa bí mật được thống nhất trong chương trình gửi và nhận. Kỹ thuật này 
đòi hỏi thêm một bước kiểm tra lưới 3D kín hay hở, nếu kín thì thực hiện giấu tin, nếu 
lưới hở có thể bỏ qua. 
Hình 7. Minh họa quá trình giấu và giải mã trên lưới kín 
6. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 
Chương trình thực nghiệm thực hiện trên các mô hình VRML, sử dụng giá trị m 
= 100. Quy tắc của chuỗi bít khóa được sử dụng là chuỗi bít luân phiên 0 và 1. 
Hình 8 và Hình 9 cho thấy sự có sự biến đổi với trường hợp giấu nhiều bít trên 
một số lượng tam giác ít. Kết quả rút trích giống ban đầu nhưng mô hình đã có sự biến 
đổi, về mặt tổng thể, mô hình vẫn giữ được nguyên bản ban đầu. 
Hình 8. Mức độ biến đổi của mô hình với 32 tam giác, giấu 128 bít tin. 
205 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 
(a) Mô hình nhúng cone.vrl 
(b) Đối tượng mang s_cone.vrl 
(c) Vị trí bị dịch chuyển. 
(d) Mô hình Elephant 
(e)Đối tượng nhúng 
(f)Đối tượng mang bị thay đổi 
Hình 9. Thử nghiệm nhúng trên một số mô hình. 
Kết quả thực nghiệm cho thấy tỉ lệ rút trích đạt kết quả tốt, tuy nhiên việc giấu 
quá nhiều thông tin trên một mô hình sẽ làm mô hình bị biến đổi nhiều. Chính vì vậy 
mà kỹ thuật này đạt kết quả tốt nhất với lượng bít giấu bằng số tam giác. Nếu mỗi tam 
giác chỉ giấu ba bít, công thức tính số bít giấu hiệu quả là nbit = 3k với k là số tam giác 
giấu. 
7. KẾT LUẬN 
Bài báo đề xuất phương pháp xác định lưới 3D khép kín, từ đó áp dụng phương 
pháp giấu tin dựa trên cấu trúc lưới này. Kỹ thuật giấu tin trong môi trường lưới tam 
giác khép kín vẫn đảm bảo được các tính chất giống như giấu tin trên các môi trường 
khác. Kết quả của bài báo có thể ứng dụng trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền, chuyển tin 
mật, xác lập thông tin 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] W.Bender, D.Gruhl, N.Morimoto and A.Lu, Techniques for data hidding, IBM 
Systems Journal, Vol 35, Nos 3&4, (1996). 
[2] Min Wu, Multimedia Data Hiding, Princeton University, USA,( 2001). 
 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN] 206 
[3] Jingliang Peng, Chang-Su Kim and C.-C. Jay Kuo, Technologies for 3D mesh 
compression: A survey, Journal of Visual Communication and Image Representation, 
Volume 16, Issue 6, December 2005, Pages 688-733, (2005). 
[4] François Cayre and Benoît Macq, Data Hiding on 3-D Triangle Meshes, IEEE 
Transaction on signal processing, (2003). 
[5] Yu-Ming Cheng, Chung-Ming Wang, A high-capacity steganographic approach for 
3D polygonalmeshes, Visual Comput, (2006). 
[6] Min-Wen Chao, Chao-hung Lin, Cheng-Wei Yu, and Tong-Yee Lee, A High 
Capacity 3D Steganography Algorithm, IEEE Transactions on Visualizations and 
Computer Graphics, (2009). 
STEGANOGRAPHY TECHNIQUE ON CLOSED 
3D TRIANGULAR MESHES 
Thai Duy Quya* 
aThe Faculty of Information Technology, Dalat University, Lamdong, Vietnam 
*Corresponding author: quytd@dlu.edu.vn 
Article history 
Received: January 04th, 2016 
Received in revised form: March 03rd, 2016 
Accepted: March 16th, 2016 
Abstract 
This paper proposes a structure presentation of 3D mesh and closed mesh, which can apply 
for hidden messages. Based on shifting value coordinates of vertices, the technique allows 
information hidden on the triangular 3D mesh model. This above process is controled by 
rule secret key. The article also mentions a reverse to decode data from stego. 
Keywords: 3D Modelling; Data hiding; Steganography; VRML. 

File đính kèm:

  • pdfmot_de_xuat_su_dung_luoi_3d_khep_kin_de_giau_tin.pdf