Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng đa phương trong giai đoạn hiện nay

Đối ngoại quốc phòng là một bộ phận quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao

Nhà nước. Những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc

phòng, trong đó có đối ngoại quốc phòng đa phương và đạt được những kết quả to lớn, góp phần

xây dựng, củng cố lòng tin giữa các nước; duy trì môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên

thế giới; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam; thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bài viết

này làm rõ một số vấn đề về đối ngoại quốc phòng đa phương, kết quả thực hiện nhiệm vụ này

những năm qua, chỉ ra yêu cầu và giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng

đa phương trong những năm tới.

pdf 7 trang yennguyen 1620
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng đa phương trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng đa phương trong giai đoạn hiện nay

Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng đa phương trong giai đoạn hiện nay
98 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
v QUAN HỆ QUỐC TẾ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối ngoại đa phương, theo Đặng Đình Quý 
(2015, tr. 15): “Có thể bao gồm rất nhiều hoạt động 
song phương nhưng liên quan đến quá trình đàm 
phán, hợp tác và đấu tranh tại các cơ chế, diễn đàn 
đa phương; quá trình triển khai các thỏa thuận đã 
đạt được tại các cơ chế, diễn đàn đa phương”. Để 
thực hiện mục tiêu phát triển quốc gia, góp phần 
xây dựng một khu vực, thế giới hòa bình, hữu nghị 
và thịnh vượng, các quốc gia trên thế giới luôn có 
nhu cầu tăng cường hợp tác thông qua các diễn 
đàn đa phương để duy trì sự đồng thuận, phối hợp 
hành động ở các lĩnh vực cùng quan tâm, trong 
đó có hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương 
(ĐNQPĐP). Theo nghĩa hẹp, ĐNQPĐP là các 
hoạt động tại các cơ chế, diễn đàn đa phương; theo 
nghĩa rộng, bao hàm tất cả các hoạt động liên quan 
NGUYỄN NĂNG NAM*
*Học viện Khoa học Quân sự, nangnamhvkhqs@gmail.com
Ngày nhận bài: 25/7/2019; ngày sửa chữa: 19/8/2019; ngày duyệt đăng: 20/8/2019
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC 
ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG ĐA PHƯƠNG 
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
TÓM TẮT 
Đối ngoại quốc phòng là một bộ phận quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao 
Nhà nước. Những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc 
phòng, trong đó có đối ngoại quốc phòng đa phương và đạt được những kết quả to lớn, góp phần 
xây dựng, củng cố lòng tin giữa các nước; duy trì môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên 
thế giới; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam; thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bài viết 
này làm rõ một số vấn đề về đối ngoại quốc phòng đa phương, kết quả thực hiện nhiệm vụ này 
những năm qua, chỉ ra yêu cầu và giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng 
đa phương trong những năm tới. 
Từ khóa: đối ngoại quốc phòng, đối ngoại quốc phòng đa phương, hiệu quả, quốc phòng, an ninh
đến cơ chế, diễn đàn đa phương. Đây là hình thức 
đối ngoại quốc phòng vừa quan hệ với các quốc 
gia có chủ quyền, vừa quan hệ với các tổ chức 
quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ, nhằm mục 
đích tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau góp 
phần duy trì an ninh của mỗi nước, khu vực và 
quốc tế trên tinh thần hiểu biết, tôn trọng độc lập, 
chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ 
của nhau và cùng có lợi. 
2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỦ TRƯƠNG 
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG 
ĐA PHƯƠNG
Đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng 
trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao 
Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp 
về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của 
99KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
QUAN HỆ QUỐC TẾ v
Nhà nước, sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Quân 
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Là hình thức quan 
trọng của đối ngoại quốc phòng, đặc trưng của 
hợp tác quốc phòng trên các diễn đàn đa phương 
là hợp tác vì hòa bình, ổn định, phát triển, nhưng 
trước hết là để xây dựng lòng tin, cam kết không 
sử dụng vũ lực, sức mạnh quân sự để đối phó với 
nhau, xử lý những vấn đề giữa các quốc gia có liên 
quan, mà ngược lại, sử dụng thế mạnh quân sự, 
quốc phòng để cùng hợp tác, phát triển, bảo đảm 
hòa bình vững chắc, ứng phó với các thách thức an 
ninh phi truyền thống. 
Hoạt động ĐNQPĐP của Việt Nam là nhằm 
mục đích góp phần tích cực vào việc xây dựng 
nhận thức chung, xây dựng lòng tin, giữ vững ổn 
định chính trị, củng cố môi trường hòa bình, bảo 
đảm an ninh bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho 
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; bảo vệ 
các lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trên 
trường quốc tế và khu vực; nâng cao vị thế, uy tín 
của quân đội, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của 
quân đội các nước đối với việc xây dựng quân đội, 
củng cố nền quốc phòng Việt Nam; bảo vệ hòa 
bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay, chủ trương hoạt động 
ĐNQPĐP được Quân ủy Trung ương (2013, tr. 5) 
nhấn mạnh: “Chủ động tham gia các cơ chế đa 
phương về quốc phòng, trước hết là các cơ chế hợp 
tác quốc phòng do ASEAN giữ vai trò chủ đạo, 
tham gia các cơ chế đa phương về kiểm soát vũ 
khí hủy diệt hàng loạt, diễn tập chung và các hoạt 
động khác”; Đảng Cộng sản Việt Nam (2016, tr. 
155) xác định: “Chủ động, tích cực tham gia các 
cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, trong 
đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức 
cao hơn như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên 
Hợp Quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống 
và các hoạt động khác”. Việt Nam tiếp tục tham 
gia tích cực, có hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc 
phòng đa phương như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc 
phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ 
trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng 
(ADMM+), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), 
Đối thoại Shangri-La... và hoạt động gìn giữ hòa 
bình của Liên Hợp Quốc, nghiên cứu tham gia các 
cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương khác. 
Trong hoạt động ĐNQPĐP, Việt Nam cần 
chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động 
ĐNQPĐP có trọng tâm, trọng điểm thiết thực gắn 
với lợi ích quốc gia - dân tộc; thực hiện vừa hợp 
tác, vừa đấu tranh, phát huy các điểm tương đồng, 
thu hẹp các điểm bất đồng, thực hiện thêm bạn, 
bớt thù, Ban Chấp hành Trung ương (2018, tr. 3) 
khẳng định: “Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, 
đồng thời tích cực góp phần vào việc khẳng định 
và củng cố các nguyên tắc cơ bản và phổ biến của 
quan hệ quốc tế được ghi trong Hiến chương Liên 
Hợp Quốc và luật pháp quốc tế; đẩy mạnh hợp tác 
vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải 
quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, 
các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, 
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn 
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội 
bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Tại Điều 
4, Luật Quốc phòng năm 2018, Quốc hội (2018) 
cũng đã xác định chính sách của Nhà nước Việt 
Nam về quốc phòng, đó là: “không tham gia 
lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống 
bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân 
sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống 
lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực 
trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, 
tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên 
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn 
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội 
bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; phù hợp với 
Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế 
có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 
Việt Nam là thành viên”. Đây vừa là đường lối, 
chủ trương, vừa là cơ sở pháp lý quan trọng để 
hoạt động ĐNQPĐP của Việt Nam diễn ra có hiệu 
quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng 
và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
3. KẾT QUẢ CHỦ YẾU TRÊN LĨNH VỰC 
ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG ĐA PHƯƠNG 
TRONG NHỮNG NĂM QUA
Nhận thức sâu sắc xu thế cũng như tầm quan 
trọng của ĐNQPĐP, trong những năm qua, Việt 
100 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
v QUAN HỆ QUỐC TẾ
Nam đã chủ động tham gia các cơ chế hợp tác 
quốc phòng - quân sự trong ASEAN và có những 
đóng góp quan trọng cho việc bảo đảm sự đoàn 
kết, thống nhất ASEAN cũng như phát huy vai trò 
trung tâm của ASEAN ở khu vực. Từ chỗ chỉ tham 
gia với tư cách là quan sát viên, khách mời danh dự, 
Việt Nam đã tích cực tham gia và đang từng bước 
chủ động đóng góp xây dựng, hoạch định chính 
sách, đề xuất nhiều sáng kiến tại các cơ chế hợp 
tác về quốc phòng, an ninh chủ yếu của khu vực. 
Trong giai đoạn 2015 - 2018, ĐNQPĐP tiếp 
tục có những bước phát triển tích cực cả về lượng 
và chất khi Việt Nam tiếp tục tham gia tích cực và 
đóng góp sáng kiến tại các diễn đàn quân sự, quốc 
phòng khu vực và quốc tế như: ADMM, ADMM+, 
ARF, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc 
tế Mát-xcơ-va, Diễn đàn Hương Sơn, Đối thoại 
quốc phòng Xơ-un, Hội nghị không chính thức Tư 
lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN 
Việc lãnh đạo quân đội cấp cao của Việt Nam tham 
dự và có các bài phát biểu quan trọng tại các diễn 
đàn quốc phòng đa phương, với những sáng kiến 
thiết thực và mang tính khả thi đã thể hiện trách 
nhiệm cao của Việt Nam đối với các vấn đề an 
ninh, quốc phòng khu vực và quốc tế, điều đó thể 
hiện vai trò, vị thế của Việt Nam ngày càng được 
nâng cao.
Giai đoạn này cũng đã đánh dấu bước hội nhập 
mạnh mẽ của Quân đội nhân dân Việt Nam vào 
khu vực, tích cực tham gia ngày càng nhiều hơn 
các hoạt động trên thực địa, như: Cử tàu và lực 
lượng tham gia Diễn tập quốc tế về phòng chống 
thiên tai - cứu trợ thảm họa do In-đô-nê-xi-a tổ 
chức (KOMODO 2016, 2018); cử tàu hải quân và 
lực lượng đặc công tham gia diễn tập thực binh 
Nhóm chuyên gia ADMM+ về An ninh hàng hải 
và chống khủng bố tại Bru-nây và Xinh-ga-po 
(2016); phối hợp với các nước đồng chủ trì Nhóm 
chuyên gia ADMM+ về Gìn giữ hòa bình và Hành 
động mìn nhân đạo; tham gia diễn tập thực địa tại 
Ấn Độ (2016); tham gia diễn tập thực binh nhóm 
chuyên gia ADMM+ về hỗ trợ nhân đạo và cứu 
trợ thảm họa, kết hợp quân y tại Thái Lan (2016); 
diễn tập Hải quân đa phương trong khuôn khổ Hội 
thảo Hải quân các nước Tây Thái Bình Dương lần 
thứ 6;... Qua đó, duy trì sự đoàn kết, hiểu biết, tin 
cậy lẫn nhau giữa quân đội các nước ASEAN cũng 
như phát huy vai trò của ASEAN ở khu vực, góp 
phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát 
triển đất nước. 
Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình của Liên Hợp 
Quốc, Việt Nam tiếp tục duy trì hoạt động tại Phái 
bộ Nam Xu-đăng và Cộng hòa Trung Phi. Sau 
5 năm (từ tháng 5/2014 đến tháng 6/2019), Việt 
Nam đã cử 37 lượt cán bộ, sĩ quan tham gia thực 
hiện nhiệm vụ dưới hình thức cá nhân. Triển khai 
thành công Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 gồm 
63 người đến Nam Xu-đăng vào tháng 10/2018 
và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 với biên chế 70 
người thuộc Học viện Quân y đang tích cực huấn 
luyện nhằm sẵn sàng triển khai thay thế Bệnh viện 
dã chiến cấp 2 số 1. Một đội công binh Việt Nam 
gồm 290 người (38 nữ) đã hoàn tất công tác chuẩn 
bị và sẵn sàng tham gia gìn giữ hòa bình Liên 
Hợp Quốc từ năm 2020. Ngoài ra, Việt Nam cũng 
tích cực tham gia các Hội nghị những người đứng 
đầu Lực lượng quốc phòng của Liên Hợp Quốc 
và tham gia có trách nhiệm các hoạt động của Tổ 
chức Quân y thế giới, Hội đồng Thể thao quân sự 
thế giới (CISM) 
Kết quả hoạt động ĐNQPĐP thời gian vừa qua 
chính là những hành động thực tế thể hiện trách 
nhiệm và khẳng định năng lực của Quân đội nhân 
dân Việt Nam khi tham gia các hoạt động quốc 
tế vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung của 
khu vực và quốc tế. Hoạt động ĐNQPĐP đã góp 
phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của quân 
đội, đóng góp quan trọng vào hoạt động đối ngoại 
của Đảng, ngoại giao của Nhà nước, giữ vững mục 
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ 
các lợi ích quốc gia của ta trên trường quốc tế và 
khu vực... Thông qua các cơ chế đa phương về an 
ninh, quân sự, quốc phòng, nhất là trong khuôn 
khổ ASEAN, Việt Nam đã nhận được sự đồng 
thuận và ủng hộ của các nước về quan điểm giải 
quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp 
101KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
QUAN HỆ QUỐC TẾ v
hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và cùng với 
các nước tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử Biển 
Đông (COC).
4. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI 
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC 
ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG ĐA PHƯƠNG 
TRONG THỜI GIAN TỚI
Tình hình thế giới, khu vực trong những năm 
tới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Chủ 
nghĩa dân tộc cực đoan, trào lưu dân túy, tâm lý ly 
tâm, ly khai có chiều hướng gia tăng. Cuộc cách 
mạng công nghiệp lần thứ 4 phát triển mạnh mẽ, 
tạo cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức. 
Các nước lớn vẫn chi phối các quan hệ quốc tế, 
nổi lên là cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ với Trung 
Quốc, giữa Mỹ, EU với Nga. Khu vực Đông Nam 
Á, một mặt sẽ tiếp tục phát triển năng động, mặt 
khác cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. 
Các cơ chế, diễn đàn an ninh đa phương khu vực, 
quốc tế mới sẽ ngày càng gia tăng, các cơ chế hợp 
tác quốc phòng - an ninh đa phương ở khu vực dựa 
trên nền tảng của các cơ chế sẵn có như ADMM, 
ADMM+, ARF sẽ phát triển theo hướng mở 
rộng cả về nội dung, hình thức và quy mô. Tình 
hình tranh chấp chủ quyền trên biển, trên đất liền 
vẫn còn kéo dài với những diễn biến phức tạp, khó 
lường, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến 
lược “Diễn biến hòa bình” tăng cường chống phá 
ta trên nhiều lĩnh vực. 
Trong những năm tới, Ban Chấp hành Trung 
ương (2018, tr. 5) chủ trương: “Chủ động, tích cực 
tham gia vào các cơ chế đa phương về quốc phòng - 
an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, 
bảo đảm an ninh quốc gia. Tăng cường sự gắn kết 
an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn 
định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan 
xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng 
cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung 
quan tâm và lợi ích. Trên cơ sở không tham gia vào 
các liên minh quân sự, tăng cường tham gia các hoạt 
động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, hợp tác 
quốc tế ứng phó với những mối đe dọa an ninh phi 
truyền thống và các hoạt động khác”. Chủ trương 
này đã khẳng định lập trường nhất quán của Việt 
Nam trong việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ 
độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, 
bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, 
vùng trời của Tổ quốc; tôn trọng và quan tâm đến 
lợi ích quốc gia của các nước khác một cách chính 
đáng; giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện 
pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc 
tế; giải quyết các vấn đề khu vực và thế giới thông 
qua các thể chế, các diễn đàn đa phương; chủ động, 
tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng đa 
phương trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN 
giữ vai trò chủ đạo; tiếp tục thực hiện tốt Đề án 
Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của 
Liên Hợp Quốc. 
Trong thời gian tới, để tiếp tục nâng cao hiệu 
quả công tác ĐNQPĐP, cần tập trung vào các giải 
pháp cơ bản sau:
Một là, tích cực tham gia các diễn đàn, tổ chức 
đa phương, cấu trúc an ninh quốc tế và khu vực
Việt Nam gia nhập hệ thống các tổ chức đa 
phương quốc tế, khu vực để nhằm thực hiện những 
lợi ích của mình, trong đó có việc giành quyền cho 
Việt Nam và các nước cùng ý tưởng; từng bước tiến 
hành cải cách và cải tạo những yếu tố không công 
bằng, không hợp lý trong hệ thống quan hệ, hợp 
tác quốc tế. Thảo luận, làm rõ lợi ích ở khu vực 
và quốc tế của Việt Nam, thể hiện mục tiêu và nội 
dung chiến lược của Việt Nam trong khu vực và 
quốc tế, làm cho Việt Nam có những mục tiêu rõ 
ràng và lâu dài khi tham gia ĐNQPĐP, nắm vững 
và có đối sách rõ ràng đối với các chương trình hoạt 
động ngoại giao, chủ động thúc đẩy chương trình 
đa phương có lợi cho hòa bình, phát triển của Việt 
Nam, khu vực và quốc tế. Trên cơ sở mục tiêu đối 
ngoại, lợi ích quốc gia - dân tộc ở từng giai đoạn, 
Việt Nam cần chủ động đăng cai tổ chức các hoạt 
động của các diễn đàn, tổ chức đa phương để từng 
bước nâng cao vị thế, thúc đẩy phát triển và quảng 
bá đất nước. Việt Nam cần tích cực, chủ động đảm 
nhận trọng trách, ứng cử vào các cơ quan chỉ đạo, 
102 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
v QUAN HỆ QUỐC TẾ
điều hành của các cơ chế đa phương, Ban Chấp hành 
Trung ương (2018, tr. 6) xác định cần phải “nâng 
cao nhận thức về tầm quan trọng của đối ngoại đa 
phương, đẩy mạnh đổi mới tư duy, cách tiếp cận, 
kiện toàn cơ chế phối hợp, giám sát, đôn đốc trong 
triển khai hoạt động đối ngoại đa phương. Đặc biệt 
chú trọng và tích cực triển khai tạo điều kiện thuận 
lợi để người Việt Nam vào làm việc trong các cơ 
quan Liên Hợp Quốc, diễn đàn, tổ chức đa phương; 
đẩy mạnh vận động các tổ chức đa phương đặt trụ 
sở ở nước ta”. 
Trong những năm tới, để đẩy mạnh và nâng tầm 
ĐNQPĐP, theo Vũ Chiến Thắng (2018), Việt Nam 
cần tiếp tục “chủ động, tích cực tham gia các tổ 
chức, cấu trúc an ninh, diễn đàn khu vực vì mục 
tiêu ổn định, hòa bình trong khu vực, liên khu vực 
và toàn cầu, cả xây dựng luật lệ, nguyên tắc và đề 
xuất sáng kiến tổ chức các hoạt động trên thực địa. 
Đặc biệt, chủ động xây dựng ý tưởng, đề án, kế 
hoạch tổ chức các hội nghị quốc phòng, quân sự 
trong năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN (2020), 
qua đó một lần nữa khẳng định năng lực, tiếng nói, 
vị thế của Việt Nam trong việc hiện thực hóa các 
cơ chế hợp tác quốc phòng và các cấu trúc an ninh 
khu vực đã định hình”. Đồng thời, đẩy mạnh việc rà 
soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể 
chế trong nước phù hợp với các luật lệ, chuẩn mực 
chung và các cam kết quốc tế mà nước ta tham gia, 
nhanh chóng hoàn thiện Thông tư quy định chi tiết 
và hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/2016/NĐ-
CP ngày 31 tháng 3 năm 2016 của Chính phủ quy 
định về đối ngoại quốc phòng và tiếp tục triển khai 
thực hiện có hiệu quả đề án “Hội nhập quốc tế về 
quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. 
Ngoài ra, Việt Nam cần tiếp tục triển khai hợp 
tác quốc phòng với các nước trong khu vực trên 
tinh thần tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, 
hiệu quả, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ, 
vừa đáp ứng lợi ích chiến lược của đất nước, vừa 
đáp ứng lợi ích chung của khu vực. Thông qua các 
cơ chế, diễn đàn hợp tác an ninh - quốc phòng khu 
vực và quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục thể hiện rõ 
quan điểm, lập trường của mình đối với các vấn đề 
quốc tế, khu vực; làm cho quốc tế, khu vực hiểu 
rõ hơn chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ và 
chính nghĩa của Việt Nam, từ đó tranh thủ được sự 
đồng tình ủng hộ của khu vực, quốc tế trong giải 
quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích chính 
đáng của Việt Nam. Tăng cường nghiên cứu làm 
rõ mối quan hệ của Việt Nam với các hệ thống 
quốc tế, có thái độ chủ động trong việc tham gia, 
cải tạo hệ thống an ninh chính trị quốc tế, khu vực.
Hai là, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc phòng, 
an ninh và giải quyết các mâu thuẫn, xung đột bằng 
biện pháp hòa bình trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân 
tộc và luật pháp quốc tế
Trong những năm tới, để hoạt động ĐNQPĐP 
đi đúng hướng và mang lại hiệu quả cao, Ban Chấp 
hành Trung ương (2018, tr. 3) chỉ rõ: “Đẩy mạnh 
và nâng tầm đối ngoại đa phương nhằm tăng cường 
sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy 
tín quốc tế của đất nước; giữ vững môi trường hòa 
bình, ổn định; bảo vệ vững chắc độc lập, thống 
nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao 
hiệu quả hội nhập quốc tế, tranh thủ tối đa các điều 
kiện và nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước 
nhanh, bền vững, Khẳng định mạnh mẽ vai trò 
của Việt Nam là thành viên tích cực, là đối tác tin 
cậy và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; nỗ 
lực vươn lên để đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, 
hòa giải tại các diễn đàn, tổ chức đa phương có 
tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, phù 
hợp với khả năng và điều kiện cụ thể”. Do đó, Việt 
Nam cần có chiến lược dài hạn và đầu tư nguồn 
lực thích đáng cho hoạt động ĐNQPĐP để hoạt 
động này phát triển theo đúng chủ trương, chính 
sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và sớm bắt kịp 
các nước trong khu vực, phù hợp với sự phát triển 
của tình hình thế giới, khu vực; tăng cường tuyên 
truyền, giáo dục tạo sự thống nhất cao về nhận 
thức của các chủ thể, lực lượng trong việc tham 
gia hoạt động ĐNQPĐP, về đánh giá tình hình, xử 
lý các vấn đề phức tạp, nhạy cảm nảy sinh từ bối 
cảnh quốc tế, khu vực và thực tiễn đất nước. 
Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động hợp 
tác quốc phòng trên các diễn đàn đa phương nhằm 
mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển; 
103KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
QUAN HỆ QUỐC TẾ v
gia tăng sự gắn kết an ninh, ổn định và phát triển 
của nước ta với an ninh, ổn định và phát triển của 
các nước trong khu vực; kịp thời ứng phó với các 
thách thức an ninh phi truyền thống; thúc đẩy tuân 
thủ luật pháp quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh 
chấp, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao, 
pháp lý. Trong hội nghị định hướng đối ngoại quốc 
phòng cho từng thời kỳ, Đảng, Nhà nước, Quân 
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn 
vị làm nhiệm vụ ĐNQPĐP cần xác định nội dung 
quan hệ đa phương về quốc phòng một cách cụ thể 
hơn, để chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động 
hợp tác cho từng giai đoạn. Đồng thời, chú trọng 
bổ sung, hoàn thiện và kịp thời điều chỉnh định 
hướng, đối sách với các nước lớn trong hợp tác 
quân sự - quốc phòng nhằm tạo cho đất nước nhiều 
không gian lựa chọn, cân bằng các mối quan hệ, 
tăng cường vị thế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân 
tộc; xử lý tốt các vấn đề khác biệt, tranh chấp trên 
cơ sở kết hợp chặt chẽ lợi ích quốc gia - dân tộc, 
gắn hòa bình của Việt Nam với hòa bình của khu 
vực và quốc tế.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác 
ĐNQPĐP có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu 
cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới
Để nắm chắc tình hình, tham mưu có hiệu quả 
cho Đảng, Nhà nước trong các quan hệ, hợp tác 
quốc tế về quốc phòng, an ninh và kịp thời phòng 
ngừa các nguy cơ từ sớm, từ xa, đòi hỏi Quân ủy 
Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị 
trong toàn quân, trọng tâm là các cơ quan, đơn vị 
chuyên trách công tác đối ngoại quốc phòng cần 
phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ phục vụ 
nhiệm vụ ĐNQPĐP, đây là nhân tố quan trọng, 
có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả công tác đối 
ngoại quốc phòng. Do đó, Ban Chấp hành Trung 
ương (2018, tr.6) nhấn mạnh việc “tập trung đẩy 
mạnh đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, 
chuyên gia làm công tác đối ngoại đa phương theo 
hướng chuyên nghiệp, có bản lĩnh chính trị vững 
vàng, trình độ chuyên môn và kỹ năng làm việc 
đa phương trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa”. 
Trong lĩnh vực quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc 
phòng Ngô Xuân Lịch (2016, tr. 3) cho rằng: “Cần 
phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đủ 
năng lực để có thể vào làm việc tại các tổ chức 
quốc tế và khu vực có liên quan đến quốc phòng. 
Chú trọng đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia 
giỏi trên một số lĩnh vực trọng yếu”.
Các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm 
vụ ĐNQPĐP cần làm tốt công tác quy hoạch, sắp 
xếp, đào tạo, bổ nhiệm để kiện toàn tổ chức, biên 
chế đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó tập trung vào 
việc mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng tại chỗ để nâng 
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại 
ngữ cho đội ngũ cán bộ làm công tác ĐNQPĐP; chủ 
động phối hợp với cơ quan chức năng của Bộ Quốc 
phòng làm tốt công tác quy hoạch, điều chuyển, gửi 
cán bộ vào các học viện, nhà trường trong và ngoài 
quân đội, kết hợp với đưa cán bộ đi đào tạo ở nước 
ngoài, bảo đảm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cả trước 
mắt và lâu dài; chú trọng công tác phối hợp nghiên 
cứu, trao đổi đoàn, tổ chức hội thảo, hội nghị, diễn 
đàn với các viện nghiên cứu có uy tín ở trong và 
ngoài nước để đội ngũ cán bộ có điều kiện học hỏi, 
tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ; đưa đối 
ngoại đa phương trở thành một kỹ năng đào tạo bắt 
buộc trong lớp tiền công vụ.
5. KẾT LUẬN
Công tác đối ngoại đa phương của Việt Nam 
nói chung, ĐNQPĐP của Quân đội nhân dân Việt 
Nam nói riêng có vai trò rất quan trọng, khẳng định 
Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm 
trong cộng đồng khu vực và quốc tế, đồng thời góp 
phần tăng cường năng lực, tiềm lực quốc phòng 
phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt 
Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện có hiệu quả 
hoạt động ĐNQPĐP, đòi hỏi các chủ thể không chỉ 
nhận thức được vị trí, vai trò của hoạt động này mà 
còn phải đánh giá đúng thực trạng, xác định rõ các 
yêu cầu đặt ra và đề xuất giải pháp thực hiện. Các 
giải pháp nêu trên có vị trí, vai trò khác nhau, song 
tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, hỗ trợ cho 
nhau để cùng góp phần nâng cao hiệu quả công tác 
ĐNQPĐP trong giai đoạn hiện nay./.
104 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 21 (9/2019)
v QUAN HỆ QUỐC TẾ
 Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương. (2018). Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08 tháng 8 năm 2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh 
và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030. Hà Nội.
Bộ Ngoại giao. (2014). Kỷ yếu hội nghị đối ngoại đa phương thế kỷ 21 và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam. 
Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Văn phòng Trung ương 
Đảng.
Ngô Xuân Lịch. (2016). Đối ngoại quốc phòng là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa. Báo Quân đội nhân dân, số 19891, 
ngày 18/8/2016.
Quân ủy Trung ương. (2013). Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31 tháng 12 năm 2013 về hội nhập quốc tế và đối ngoại 
về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Hà Nội.
Quốc hội. (2018). Luật Quốc phòng. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Đặng Đình Quý. (2015). Đẩy mạnh đối ngoại đa phương phục vụ hội nhập quốc tế. Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 
01 (100), 11-22. 
Vũ Chiến Thắng. (2018). Đối ngoại Quốc phòng góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Truy cập 19/8/2019, từ 
https://baoquocte.vn
Lê Hoài Trung. (2017). Đối ngoại đa phương Việt Nam trong thời kỳ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Hà Nội: Nxb 
Chính trị quốc gia.
Vũ Tiến Trọng. (2015). Hội nhập quốc tế về quốc phòng dưới góc nhìn đa phương. Tạp chí Quan hệ quốc phòng, số 
29 (quý I), 5-10.
 Nguyễn Chí Vịnh. (2017). Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng trong giai đoạn hiện nay. Tạp 
chí Cộng sản, 901, 81-83. 
RAISING EFFICIENCY OF MULTILATERAL DENFENSE DIPLOMACY TODAY
NGUYEN NANG NAM
Abstract: The defense diplomacy is an important part of the diplomatic activities of the Party and the 
State. Over the past years, the Vietnam People’s Army has boosted multilateral defense diplomacy 
and obtained remarkable achievements in this area. This has contributed to building and consolidating 
trust with countries, maintaining the peace and stability of the region and the world, raising the 
Vietnam’s prestige and status and implementing the duty to protect the country. The article focuses 
on clearly defining some aspects of multilateral diplomacy as well as the results of implementing this 
over the past years, proposing solutions to improve the efficiency of multilateral defense diplomacy 
in the coming years.
Keywords: defense diplomacy, multilateral defense diplomacy, efficiency, defense and security
Received: 25/7/2019; Revised: 19/8/2019; Accepted: 20/8/2019

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_hieu_qua_cong_tac_doi_ngoai_quoc_phong_da_phuong_tr.pdf